Đóng

Hợp tác năng lượng Việt - Nga: Những cái bắt tay mở ra ‘chân trời hợp tác mới’

Hơn bốn thập niên hợp tác trong lĩnh vực dầu khí - năng lượng đã tạo nên một nền tảng đặc biệt vững chắc trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga. Đến nay, quan hệ ấy đang bước vào một giai đoạn phát triển rộng hơn, tiếp tục là trụ cột giữ vai trò dẫn dắt trong quan hệ hai nước.

Từ những viên gạch đầu tiên

Điểm khởi đầu là Hiệp định liên Chính phủ năm 1981 về thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam, đặt nền cho sự ra đời của Liên doanh Vietsovpetro.

Nhưng phải đến năm 1986, giữa biển khơi đầy sóng và gió, một sự kiện lặng lẽ diễn ra trên giàn khoan ngoài khơi đã ghi dấu ấn trong ngành năng lượng. Dòng dầu thương mại đầu tiên của Việt Nam trào lên từ mỏ Bạch Hổ để từ đó trở thành biểu tượng cho ngành công nghiệp dầu khí non trẻ. Nhưng phải đến hai năm sau, năm 1988, các kỹ sư của Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro mới thực sự làm nên một cột mốc mang tính đột phá: phát hiện và đưa vào khai thác dầu công nghiệp trong tầng đá móng nứt nẻ trước Đệ Tam.

Khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ - Ảnh: Petrovietnam cung cấp

Đó không phải là một phát hiện bình thường. Theo lý thuyết địa chất dầu khí truyền thống được áp dụng phổ biến trên thế giới lúc bấy giờ, đá móng với cấu tạo địa chất nền đá cứng, kết tinh, hình thành từ hàng trăm triệu năm trước vốn bị xem là "đáy" của bể trầm tích, không có giá trị thăm dò. Giới chuyên môn quốc tế khi ấy gần như không "đặt cược” vào những cấu tạo nằm dưới lớp trầm tích trẻ. Bằng ý chí, bản lĩnh và sự sáng tạo của người Việt Nam và sự đồng hành của những người bạn Liên bang Nga, Bạch Hổ đã chứng minh điều ngược lại: trong lòng khối đá móng granit nứt nẻ ấy tồn tại một bể chứa dầu khổng lồ. Với công nghệ và tư duy phù hợp, con người hoàn toàn có thể khai thác được nguồn tài nguyên tưởng chừng "vô hình" đó. Có thể nói, chính bàn tay và trí tuệ của những người làm dầu khí Việt - Nga tại Bạch Hổ đã góp phần đảo ngược một tiền đề địa chất tồn tại trong nhiều thập kỷ, mở ra một “trường phái” tìm kiếm, thăm dò hoàn toàn mới cho khu vực.

Giá trị của phát hiện năm 1988, vì vậy, không chỉ nằm ở những tấn dầu đầu tiên được đưa lên từ lòng đất. Nó là bước ngoặt thay đổi căn bản tư duy về tiềm năng dầu khí của cả khu vực, mở đường cho hàng loạt hoạt động tìm kiếm, thăm dò mở rộng sau này. Quan trọng hơn, Bạch Hổ đã trở thành một "trường học" thực tiễn đúng nghĩa, nơi đội ngũ kỹ sư, chuyên gia Việt Nam từ chỗ gần như chưa có kinh nghiệm khai thác biển sâu từng bước trưởng thành, tiếp cận và làm chủ hoàn toàn công nghệ vốn khi đó chỉ nằm trong tay số ít cường quốc dầu khí thế giới. Đây chính là phần "vốn" quý giá nhất mà mối quan hệ hợp tác Việt - Nga để lại.

Và những con số ấy, đến nay, vẫn tiếp tục được viết tiếp. Tính đến tháng 6/2026 - gần bốn thập niên sau ngày dòng dầu đầu tiên trào lên tại Bạch Hổ - Vietsovpetro đã khai thác lũy kế 255 triệu tấn dầu tại Lô 09-1, một con số minh chứng cho sức sống bền bỉ của liên doanh dầu khí lâu đời nhất Việt Nam, ngay cả khi các mỏ chủ lực đã bước qua giai đoạn khai thác đỉnh và những đối tượng địa chất còn lại ngày một phức tạp hơn. Riêng quý I/2026, Vietsovpetro khai thác khoảng 770.000 tấn dầu thô và condensate, đưa vào bờ hơn 210 triệu m³ khí; doanh thu 9 tháng gần nhất đạt 2,23 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Liên doanh cũng đang phát triển mỏ khí Thiên Nga - Hải Âu tại Lô 12/11, dự kiến cung cấp khoảng 7,43 tỷ m³ khí cho Đông Nam Bộ giai đoạn 2026-2037.

Công ty Liên doanh Rusvietpetro điều hành khai thác 4 lô dầu khí tại Nhenhesky, Liên bang Nga - Ảnh: Petrovietnam cung cấp

Chính từ nền móng ấy, hợp tác dầu khí - năng lượngViệt Nam - Liên bang Nga đang từng ngày bước tiếp sang những chương mới, từ mở rộng lô hợp đồng đến điện gió ngoài khơi và điện hạt nhân, như đang diễn ra trong năm 2026 này.

Kế thừa kinh nghiệm từ Vietsovpetro, năm 2008, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Zarubezhneft thành lập Liên doanh Rusvietpetro để khai thác dầu khí ngay trên đất Nga. Nếu Vietsovpetro là nơi Việt Nam tiếp nhận công nghệ khai thác ngoài khơi, thì với Rusvietpetro, Petrovietnam mang vốn, nhân lực và kinh nghiệm ấy đầu tư ngược lại nước Nga. Đến tháng 6/2025, Rusvietpetro đã khai thác hơn 40 triệu tấn dầu từ 13 mỏ thuộc 4 lô hợp đồng tại khu vực Nhenhesky. Lợi nhuận lũy kế của liên doanh đã vượt 3 tỷ USD, trong đó Petrovietnam với 49% vốn góp đã làm lợi cho đất nước khoảng 1,4 tỷ USD. Một con số cho thấy hiệu quả kinh tế thực chất, không chỉ dừng ở ý nghĩa biểu tượng. Việc trực tiếp tham gia quản lý và mang lợi nhuận về cho ngân sách Nhà nước từ kết quả khai thác khẳng định sự trưởng thành của Petrovietnam, đồng thời tạo thêm giá trị chung để hai nước tiếp tục gắn bó lâu dài trong lĩnh vực dầu khí.

Mở rộng không gian hợp tác

Gần 4 thập kỷ trôi qua, sự hợp tác năng lượng Việt – Nga tiếp tục được củng cố, vun đắp bằng những văn kiện pháp lý mới. Năm 2025, các nghị định thư sửa đổi hiệp định liên Chính phủ về Vietsovpetro, Rusvietpetro, cùng hiệp định mở rộng khu vực hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí đã được ký kết, tạo hành lang pháp lý cho một giai đoạn phát triển mới - trong bối cảnh nhiều mỏ chủ lực đã đi qua đỉnh khai thác, đòi hỏi những cơ chế linh hoạt hơn để duy trì sản lượng.

Tháng 6/2026, Petrovietnam và các đối tác Nga đã trao văn kiện liên quan Hợp đồng chia sản phẩm dầu khí (PSC) Lô 01/17 và 02/17 trên thềm lục địa Việt Nam. Theo đó, Zarubezhneft đang được khuyến khích nghiên cứu đầu tư và ký kết hợp đồng tại các lô dầu khí mở của Việt Nam, dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, hiệu quả và hài hòa lợi ích. Việc mở rộng địa bàn hoạt động không chỉ giúp tìm kiếm thêm nguồn trữ lượng mới mà còn tận dụng tối đa nền tảng nhân lực, công nghệ và dịch vụ kỹ thuật sẵn có của liên doanh.

Thủ tướng Lê Minh Hưng chứng kiến trao Giấy chứng nhận đầu tư của PSC Lô 01/17&02/17, thềm lục địa Việt Nam giữa PETROVIETNAM và Tập đoàn Zarubezhneft, trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga, tháng 6/2026 - Ảnh: Petrovietnam

Tương tự với Rusvietpetro, hai phía đang xem xét mở rộng vùng khai thác, tiếp nhận thêm các mỏ và lô tiềm năng lân cận khu vực đang hoạt động. Hướng phát triển này cho phép tận dụng cơ sở hạ tầng, công nghệ và đội ngũ vận hành hiện có, qua đó giảm chi phí đầu tư cho các mỏ mới và kéo dài hiệu quả của dự án.

Hai nước cũng nghiên cứu khả năng cùng triển khai các dự án dầu khí tại nước thứ ba. Định hướng này đặt ra một cấp độ hợp tác cao hơn, trong đó kinh nghiệm của Nga tại nhiều thị trường dầu khí được kết hợp với năng lực, mạng lưới quan hệ và kinh nghiệm đầu tư quốc tế của Petrovietnam.

Hợp tác đang được nối dài từ thượng nguồn sang thương mại và hạ tầng dự trữ. Trong cuộc làm việc với Chính phủ Việt Nam tại Moskva tháng 3/2026, Zarubezhneft đã đề xuất cung cấp dài hạn dầu, khí, sản phẩm dầu khí, đồng thời hợp tác xây kho dự trữ tại Việt Nam, đáp ứng trực tiếp yêu cầu an ninh năng lượng và tự chủ nguồn cung.

Ở mảng khí hóa lỏng (LNG), một trong những tập đoàn khí đốt hàng đầu của Nga là Novatek đã quan tâm phát triển kho cảng và dự án khí - điện tại Việt Nam, với các địa điểm được nhắc đến gồm Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Du, Nghi Sơn và Cà Ná, đồng thời đã đạt thỏa thuận sơ bộ cung cấp LNG; tiến độ cụ thể còn phụ thuộc đàm phán về sản lượng, giá, vận chuyển và năng lực tiếp nhận hạ tầng

Song song với đó, với bốn thập niên vận hành công trình ngoài khơi đã tạo cho Petrovietnam và Vietsovpetro nền tảng kỹ thuật, nhân lực đặc thù. Zarubezhneft đã đề xuất cùng hai đơn vị này nghiên cứu chương trình điện gió ngoài khơi, với phương án trang trại công suất khoảng 1 GW, kèm định hướng sản xuất thiết bị và phát triển chuỗi cung ứng trong nước. Hướng đi này tận dụng trực tiếp kinh nghiệm thi công công trình biển và đội ngũ kỹ sư sẵn có, tương đồng với cách nhiều tập đoàn dầu khí quốc tế đang dịch chuyển sang năng lượng tái tạo ngoài khơi.

Ngoài ra, trong các hướng mở rộng, điện hạt nhân cũng có bước tiến rõ hơn về khuôn khổ pháp lý. Tháng 3/2026, Việt Nam và Liên bang Nga đã ký hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1, công suất dự kiến khoảng 2.400 MW. Các cuộc trao đổi tiếp theo với Rosatom tập trung vào công tác chuẩn bị dự án, đào tạo nhân lực, nội địa hóa thiết bị, tối ưu chi phí và xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai. Hợp tác năng lượng nguyên tử còn bao gồm việc duy trì hoạt động của lò phản ứng Đà Lạt trong giai đoạn chuyển tiếp và xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai, qua đó chuẩn bị thêm năng lực nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia cho Việt Nam.

Có thể thấy, điểm chung xuyên suốt của hợp tác năng lượng Việt - Nga, từ Vietsovpetro những năm 1980 đến các thỏa thuận điện gió, điện hạt nhân, LNG hiện nay, là cơ chế cùng đầu tư, cùng sản xuất và cùng thụ hưởng lợi ích kinh tế cụ thể, Những con số về thành tựu trong hợp tác năng lượng là những minh chứng quan hệ chiến lược, được vun đắp bằng tình hữu nghị bền chặt.

Gần bốn mươi năm trước, cái bắt tay đầu tiên giữa những người làm dầu khí Việt Nam và Liên Xô trên giàn khoan Bạch Hổ đã đưa dòng dầu thương mại đầu tiên lên khỏi lòng biển, rồi táo bạo hơn, đưa cả dầu từ tầng đá móng - thứ mà cả thế giới từng cho là vô giá trị trở thành nguồn thu thực sự cho đất nước. Hôm nay, những cái bắt tay ấy đang được nối dài thành nhiều văn bản hợp tác khác: từ mỏ dầu ngoài khơi đến kho cảng LNG, từ đá móng nứt nẻ đến những cánh quạt điện gió ngoài khơi công suất 1 GW. Và xa hơn nữa, đến một nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Nếu Bạch Hổ từng là nơi Việt Nam học cách làm chủ công nghệ khai thác biển sâu thì các dự án điện gió hay những chuyến hàng LNG... tương lai sẽ là nơi tình hữu nghị Việt - Nga được viết tiếp, ở một quy mô và tầm vóc khác.

Thái Bình