Đóng

Kết luận số 105-KL/TW: Trọng dụng nhân tài, kiến tạo sức mạnh quốc gia

Kế thừa tư tưởng trọng dụng hiền tài của dân tộc, Kết luận số 105-KL/TW mở hướng đổi mới chính sách nhân tài, phát huy sức mạnh trí tuệ để kiến tạo tương lai đất nước.

Ngày 15/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Kết luận khẳng định: "Kế thừa truyền thống tôn trọng hiền tài của dân tộc, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm phát hiện, thu hút, trọng dụng và phát huy vai trò của nhân tài. Chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát hiện, đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhân tài từng bước được hoàn thiện".

Đồng thời nêu rõ: "Nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, giữ vai trò quan trọng dẫn dắt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ chiến lược của đất nước"; "Thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm định hướng cao nhất. Xác định đầu tư cho nhân tài là đầu tư dài hạn, chiến lược; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên nhân tài thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia".

Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh Việt Nam đứng trước những yêu cầu phát triển mới. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực quản trị ngày càng quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế. Những mục tiêu về tự chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hiện đại và nâng cao vị thế quốc gia đòi hỏi đội ngũ nhân tài đủ sức đảm nhận những nhiệm vụ chưa có tiền lệ.

Chủ trương đó cũng gợi mở mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt lịch sử dân tộc.

Mạch nguồn trọng dụng hiền tài

Năm 1484, dưới triều vua Lê Thánh Tông, những tấm bia tiến sĩ đầu tiên được dựng tại Văn Miếu nhằm ghi danh người đỗ đạt, khuyến khích học tập và đề cao vai trò của hiền tài. Trong bài ký bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất 1442, Thân Nhân Trung viết: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".

Tư tưởng đó khẳng định vai trò quyết định của hiền tài đối với sức mạnh và sự hưng thịnh của quốc gia. Đất nước dù có lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên phong phú và tiềm lực kinh tế dồi dào vẫn khó phát triển bền vững nếu thiếu những con người có tài năng, đức độ và bản lĩnh gánh vác trọng trách quốc gia.

Dưới chế độ quân chủ, việc tuyển chọn người tài chủ yếu thông qua khoa cử Nho học, phục vụ hoạt động của triều đình. Trong xã hội hiện đại, nhân tài hiện diện ở mọi lĩnh vực, từ khoa học, công nghệ, sản xuất, kinh doanh đến giáo dục, y tế, văn hóa và quản trị quốc gia. Khác biệt về thể chế và phương thức tuyển chọn không làm mất đi giá trị trường tồn của tư tưởng trọng hiền tài. Đó là nhận thức về trách nhiệm của quốc gia trong đào tạo, phát hiện và sử dụng những người có khả năng đóng góp cho xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, năm 1960, Người xem bia ghi danh các tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam. 

Bước sang thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển truyền thống trọng dụng hiền tài của dân tộc, gắn việc phát hiện, tập hợp và sử dụng nhân tài với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chính quyền cách mạng và kiến thiết đất nước.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong hoàn cảnh đầy thử thách. Nạn đói, nạn mù chữ, ngân khố kiệt quệ, bộ máy nhà nước mới hình thành cùng nguy cơ chiến tranh đe dọa nền độc lập vừa giành được. Trước tình thế đó, việc tìm kiếm, quy tụ và trọng dụng những người có tài năng, đức độ trở thành yêu cầu cấp thiết để củng cố chính quyền, huy động sức mạnh toàn dân và xây dựng nền tảng cho quốc gia độc lập.

Ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng bài "Nhân tài và kiến quốc" trên Báo Cứu quốc số 91 (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr.114), kêu gọi những người có tài năng, sáng kiến tham gia công cuộc xây dựng đất nước. Một năm sau, trong bài "Tìm người tài đức" đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946 (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, tr.504), Người tiếp tục khẳng định: "Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài". Tư tưởng thể hiện quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của nhân tài đối với vận mệnh quốc gia, đồng thời xác định trách nhiệm của chính quyền trong việc chủ động phát hiện, tập hợp và trọng dụng những người có tài, có đức phục vụ đất nước. Người viết: "E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ".

Bài viết "Tìm người tài đức" đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946.

Tư tưởng trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được hiện thực hóa qua những quyết định tập hợp và giao trọng trách cho nhiều nhân sĩ, trí thức có xuất thân, chuyên môn và quá trình hoạt động khác nhau.

Tiêu biểu là cụ Huỳnh Thúc Kháng, nhà chí sĩ yêu nước từng là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ thời thuộc Pháp, từng tham gia phong trào Duy Tân, sáng lập Báo Tiếng Dân. Nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 3/1946, cụ tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, cụ được giao đảm nhiệm trọng trách Quyền Chủ tịch nước. 

Trong lĩnh vực kinh tế, ông Nguyễn Mạnh Hà là trường hợp tiêu biểu cho chủ trương tập hợp trí thức có chuyên môn và kinh nghiệm quản lý. Sinh năm 1913 trong một gia đình Công giáo tại Hưng Yên, ông được đào tạo về luật học và chính trị tại Đại học Paris (Pháp). Ngày 28/8/1945, khi mới 32 tuổi, Nguyễn Mạnh Hà được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế quốc dân (nay là Bộ Công Thương) trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị này, ông tham gia giải quyết những nhiệm vụ kinh tế cấp bách của đất nước.

Việc tin tưởng trao trọng trách quốc gia cho một nhân sĩ lão thành ngoài Đảng Cộng sản thể hiện tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, lấy lòng yêu nước, phẩm chất, uy tín và năng lực làm cơ sở tập hợp những người có thể đóng góp cho đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với các đại biểu trí thức dự Hội nghị chính trị đặc biệt, tháng 3/1964.

Trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật quân sự, GS. Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ) là trường hợp tiêu biểu. Năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ rời nước Pháp, trở về Tổ quốc theo Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tháng 12/1946, ông được giao trọng trách Cục trưởng Cục Quân giới, trực tiếp tổ chức nghiên cứu, chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến.

Giữa hoàn cảnh thiếu thốn vật tư, trang thiết bị và cơ sở nghiên cứu, GS. Trần Đại Nghĩa cùng đội ngũ cán bộ quân giới từng bước phát triển năng lực chế tạo vũ khí, góp phần xây dựng nền tảng khoa học và kỹ thuật quân sự Việt Nam. Trường hợp của ông thể hiện giá trị của việc trao niềm tin và trọng trách cho trí thức, tạo điều kiện chuyển hóa tri thức được đào tạo ở nước ngoài thành năng lực phục vụ đất nước.

Cùng với GS. Trần Đại Nghĩa, GS. Tạ Quang Bửu được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng, khoa học và giáo dục. Ông từng giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, lãnh đạo Trường Đại học Bách khoa Hà Nội giai đoạn 1956 đến 1960 và sau đó đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Những đóng góp của ông gắn với quá trình xây dựng nền giáo dục đại học kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cho đất nước.

Trong lĩnh vực giáo dục, GS. Nguyễn Văn Huyên, nhà nghiên cứu văn hóa được đào tạo tại Pháp, đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục từ tháng 11/1946. Gần ba thập niên gắn bó với ngành, ông góp phần xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam trong điều kiện chiến tranh kéo dài, đặt nền móng cho việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kháng chiến và kiến thiết đất nước.

Ở lĩnh vực y học, GS. Hồ Đắc Di tham gia xây dựng nền y học của nước Việt Nam mới, đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Trường Đại học Y Dược sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ông có nhiều đóng góp trong tổ chức đào tạo đội ngũ bác sĩ, phát triển giáo dục y khoa và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong những năm kháng chiến...

Những trí thức đã lựa chọn phụng sự Tổ quốc bằng tài năng, trí tuệ và tâm huyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ cách mạng tin tưởng giao trọng trách phù hợp với sở trường, tạo điều kiện để họ phát huy năng lực, đóng góp vào những nhiệm vụ cấp bách của đất nước. Thực tiễn đó để lại bài học lớn về nghệ thuật dùng người, lòng yêu nước là nền tảng quy tụ nhân tài, còn niềm tin, trách nhiệm và cơ hội cống hiến là động lực để phát huy trí tuệ, chuyển hóa tài năng của mỗi cá nhân thành sức mạnh quốc gia.

Trọng dụng nhân tài, đổi mới quản trị quốc gia

Tám thập niên sau lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển với những nhiệm vụ mới về tự chủ công nghệ, đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nền kinh tế có sức cạnh tranh cao. Cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và tổ chức những nguồn lực trí tuệ chất lượng cao. Lợi thế lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên và quy mô vốn đầu tư khó bảo đảm vị thế phát triển bền vững nếu thiếu năng lực sáng tạo và làm chủ công nghệ.

Những dữ liệu quốc tế gần đây phản ánh rõ hơn vị thế của Việt Nam. Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, Việt Nam xếp thứ 43/139 nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025. Thứ hạng về đầu ra đổi mới sáng tạo đạt vị trí 35, trong khi đầu vào đứng thứ 54. Riêng nhóm chỉ số về nguồn nhân lực và nghiên cứu xếp thứ 79.

Ở góc độ cạnh tranh nhân tài, báo cáo năm 2025 của INSEAD và Portulans Institute xếp Việt Nam thứ 76/135 quốc gia, đạt 42,25 điểm. Các chỉ số thành phần phản ánh những hạn chế về phát triển, thu hút và giữ chân nhân tài, lần lượt đứng thứ 67, 76 và 79.

Mặc dù sử dụng phương pháp và hệ thống tiêu chí khác nhau, hai bộ chỉ số cùng đặt ra vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực và điều kiện phát huy tài năng. Việt Nam đã đạt những kết quả được quốc tế ghi nhận về đổi mới sáng tạo nhưng năng lực phát triển, thu hút và giữ chân nhân tài vẫn còn nhiều dư địa cải thiện. Khoảng cách giữa kết quả đổi mới sáng tạo và các điều kiện nền tảng đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách nhân tài, gắn đào tạo với nghiên cứu, sử dụng và đãi ngộ, tạo môi trường để những người có năng lực phát huy trí tuệ, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của đất nước.

Thách thức đặt ra đối với Việt Nam là xây dựng môi trường đủ sức phát hiện, phát triển và giữ chân nhân tài, đồng thời chuyển hóa nguồn lực trí tuệ thành năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài, ngày 24/8/2026.

Tại cuộc làm việc ngày 24/8/2026 về Đề án Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ những hạn chế trong công tác nhân tài, đặc biệt là chính sách còn thiên về thu hút, tuyển dụng và đãi ngộ ban đầu, trong khi việc bố trí, sử dụng chưa tương xứng. Công tác đánh giá còn nặng về hồ sơ, bằng cấp, chức danh và quy trình hành chính, chưa phản ánh đầy đủ năng lực thực tế, kết quả và giá trị đóng góp của mỗi cá nhân.

Người đứng đầu Đảng và Nhà nước yêu cầu xác định nhân tài phải được nhận diện, đánh giá chủ yếu dựa trên phẩm chất, năng lực thực tế, tư duy sáng tạo, sản phẩm cụ thể, thành tích, uy tín nghề nghiệp và giá trị cống hiến, thay vì đồng nhất với bằng cấp, học hàm, học vị hay chức vụ quản lý. Thu hút nhân tài phải gắn với trọng dụng, giao nhiệm vụ cụ thể, bố trí phù hợp năng lực và bảo đảm những điều kiện để người tài phát huy sở trường, tạo ra kết quả thiết thực cho đất nước.

Định hướng này đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị nhân tài, từ chú trọng tuyển dụng nhân lực trình độ cao sang phát hiện, trọng dụng và đánh giá con người dựa trên nhiệm vụ, kết quả và giá trị cống hiến. Bằng cấp, học hàm, học vị và kinh nghiệm nghề nghiệp là những căn cứ đánh giá trình độ nhưng chưa đủ phản ánh năng lực sáng tạo và khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Thực tiễn công tác thu hút nhân tài thời gian qua đã đạt những kết quả bước đầu. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV ngày 16/10/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thông tin, khu vực công đã thu hút, tuyển dụng hơn 1.500 sinh viên xuất sắc, nhà khoa học trẻ và người có tài năng. Một số doanh nghiệp lớn như Viettel, Petrovietnam, VNPT, Vingroup và FPT cũng triển khai cơ chế thu hút chuyên gia tham gia các nhiệm vụ công nghệ quan trọng.

Tuy nhiên, tuyển dụng được người giỏi chưa đồng nghĩa với sử dụng hiệu quả nhân tài. Chính sách đãi ngộ hấp dẫn khó phát huy tác dụng nếu chuyên gia thiếu nhiệm vụ phù hợp, điều kiện nghiên cứu và quyền tự chủ chuyên môn. Tương tự, tổ chức dù sở hữu nhiều cán bộ trình độ cao vẫn khó tạo ra đột phá nếu duy trì phương thức quản lý bình quân, khép kín và thiếu không gian cho những ý tưởng khác biệt.

Kết luận số 105-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn đã nhận diện những hạn chế này, yêu cầu thống nhất nhận thức "không đồng nhất nhân tài với người có bằng cấp cao, học hàm, học vị, chức vụ quản lý hoặc thâm niên công tác". Đồng thời, "đề ra cơ chế đặc thù phù hợp với tính chất đặc biệt của nhân tài; tháo gỡ những rào cản về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, độ tuổi, thâm niên, quy hoạch, bổ nhiệm và cơ chế quản lý không còn phù hợp"; "khắc phục tình trạng cào bằng, cục bộ, khép kín, đố kỵ, cô lập, sợ người giỏi. Tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, dân chủ, minh bạch, đề cao liêm chính học thuật, khuyến khích tranh luận khoa học, phản biện và thử nghiệm".

Trọng dụng nhân tài để làm chủ tương lai đất nước

Kết luận số 105-KL/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia gắn với các nhiệm vụ, chương trình, dự án cụ thể trong những lĩnh vực mũi nhọn như khoa học cơ bản, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, khoa học dữ liệu và công nghệ chiến lược. Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu vào năm 2030 và nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới vào năm 2045.

Những mục tiêu này thể hiện quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh nhân tài quốc gia. Tuy nhiên, giá trị của chính sách sẽ được kiểm chứng qua hiệu quả sử dụng nguồn lực trí tuệ, khả năng giải quyết những nhiệm vụ chiến lược và đóng góp thực tế vào sự phát triển đất nước.

Mục tiêu thu hút, trọng dụng 1.000 nhân tài quốc gia đặt ra yêu cầu lựa chọn những cá nhân có năng lực vượt trội, đồng thời tạo điều kiện để họ tham gia giải quyết các bài toán phát triển chiến lược, nhất là trong những lĩnh vực Việt Nam đang nỗ lực nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.

Đơn cử, trong công nghiệp cơ khí, thách thức đặt ra là làm chủ thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống, thay vì chủ yếu tham gia sản xuất linh kiện, gia công những công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Để thực hiện mục tiêu này, Việt Nam cần đội ngũ chuyên gia đủ năng lực dẫn dắt nghiên cứu, phát triển công nghệ và tổ chức thực hiện các dự án công nghiệp lớn.

Đối với công nghiệp bán dẫn, Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực có trình độ đại học trở lên, trong đó ít nhất 15.000 nhân lực phục vụ thiết kế và 35.000 nhân lực tham gia sản xuất, đóng gói, kiểm thử cùng các công đoạn khác. Tuy nhiên, quy mô đào tạo chưa đủ bảo đảm năng lực tự chủ nếu thiếu những chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt nghiên cứu, phát triển sản phẩm và làm chủ công nghệ phức tạp.

Yêu cầu tương tự đặt ra đối với các lĩnh vực năng lượng, vật liệu mới, tự động hóa và hạ tầng chiến lược. Trọng dụng nhân tài phải xuất phát từ những nhiệm vụ phát triển, gắn năng lực chuyên môn với nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, chiến lược phát triển ngành và các chương trình trọng điểm quốc gia.

Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ 6 năm 2025 diễn ra tại Hà Nội với chủ đề "Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu góp sức cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới".

Kết luận số 105-KL/TW cũng xác định đổi mới phương thức quản trị nhân tài theo hướng lấy nhiệm vụ chiến lược và những bài toán lớn làm căn cứ phát hiện, tuyển chọn, trọng dụng và đánh giá. Theo đó, cơ quan quản lý xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, thời hạn, nguồn lực và tiêu chí đánh giá trước khi lựa chọn người đủ năng lực đảm nhận.

Đây là bước chuyển quan trọng trong phương thức sử dụng nhân tài. Thay vì tuyển dụng dựa chủ yếu vào hồ sơ, bằng cấp rồi bố trí công việc, việc lựa chọn nhân tài xuất phát từ yêu cầu giải quyết những vấn đề thực tiễn. Người được giao nhiệm vụ có thẩm quyền và nguồn lực tương ứng, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.

Cùng với đổi mới phương thức sử dụng nhân tài, Kết luận số 105-KL/TW định hướng bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài đạt khoảng 0,1% GDP hàng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nguồn lực này hướng tới việc thu hút chuyên gia đầu ngành, đồng thời phát hiện, đào tạo và phát triển đội ngũ kế cận, bảo đảm sự tích lũy, kế thừa và phát triển tri thức lâu dài.

Bên cạnh thu hút những chuyên gia đã thành danh, việc tạo nguồn và phát triển đội ngũ kế cận có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh khoa học, công nghệ lâu dài. Kết luận số 105-KL/TW đề ra định hướng phát hiện sớm tài năng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, nâng cao quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và thiết lập cơ chế "Nhân tài dẫn dắt nhân tài". Các chuyên gia đầu ngành được tạo điều kiện dẫn dắt nghiên cứu, chuyển giao tri thức, bồi dưỡng thế hệ kế cận, từng bước hình thành những đội ngũ khoa học có năng lực giải quyết các nhiệm vụ chiến lược của đất nước.

Nguồn nhân tài quốc gia cũng không giới hạn trong khu vực công. Doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, công nghệ, năng suất và giá trị thương mại. Một kỹ sư làm chủ công nghệ chế tạo, một chuyên gia phát triển hệ thống tự động hóa hay một nhà khoa học thương mại hóa thành công vật liệu mới đều có thể đóng góp trực tiếp vào năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chính sách trọng dụng nhân tài cũng mở rộng phạm vi huy động nguồn lực trí tuệ ngoài khu vực công. Doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế. Trí thức Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế có thể tham gia giải quyết các nhiệm vụ chiến lược mà không nhất thiết thay đổi nơi cư trú hoặc quan hệ công tác. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế hợp tác nghiên cứu quốc tế, tạo điều kiện huy động nguồn lực trí tuệ vượt ra ngoài phạm vi tổ chức và biên chế truyền thống.

Tuy nhiên, khả năng thu hút và giữ chân nhân tài còn phụ thuộc vào chất lượng môi trường làm việc. Chính sách đãi ngộ tạo sức hấp dẫn ban đầu, trong khi sự tôn trọng chuyên môn, quyền tự chủ, cơ hội đảm nhận những nhiệm vụ xứng tầm và triển vọng phát triển nghề nghiệp quyết định động lực cống hiến lâu dài. Trọng dụng nhân tài đòi hỏi xây dựng môi trường khuyến khích sáng tạo, ghi nhận xứng đáng những đóng góp và tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực phục vụ đất nước.

Những chủ trương mới mở ra hướng đi để tiếp nối truyền thống cầu hiền của dân tộc bằng hệ thống thể chế, chính sách và phương thức quản trị nhân tài hiện đại, lấy năng lực và kết quả cống hiến làm thước đo. Trọng dụng hiền tài chính là bồi đắp nguyên khí quốc gia, phát huy sức mạnh trí tuệ dân tộc, củng cố nội lực và nâng cao năng lực tự chủ, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng.

Nguyên Thảo