Ánh sáng từ những con đường cheo leo
Xã Bạch Ngọc là một trong những “vùng lõm” về điện của tỉnh Tuyên Quang, đồng thời là địa bàn đặc biệt khó khăn trong bản đồ điện hóa nông thôn của cả nước. Xã có diện tích tự nhiên khoảng 185 km2, gồm 16 thôn với 2.075 hộ dân và trên 9.000 nhân khẩu. Địa bàn rộng, dân cư sinh sống phân tán, địa hình chủ yếu là đồi núi cao, xen kẽ nhiều khe suối sâu, khiến việc đầu tư hạ tầng, đặc biệt là điện lưới quốc gia, gặp không ít trở ngại trong nhiều năm qua.
Do điều kiện địa hình phức tạp và giao thông khó khăn, đến nay xã vẫn còn một số thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn như Ngọc Sơn, Khuổi Dò, Khuổi Vải, nơi chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, Dao sinh sống và từng chưa được tiếp cận điện lưới quốc gia.
Riêng thôn Ngọc Sơn, quãng đường từ trung tâm xã vào thôn dài gần 20 km, phần lớn là đường đất. Mùa khô xe máy còn có thể di chuyển, nhưng mùa mưa thường xuyên lầy lội, trơn trượt, nhiều đoạn người dân phải đi bộ hàng giờ. Trong điều kiện ấy, việc đưa ánh điện về thôn bản không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà còn là phép thử về quyết tâm và trách nhiệm trong bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Trả lời phỏng vấn của Báo Công Thương, ông Vũ Đức Thắng, Đội phó Đội Quản lý điện lực khu vực Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) cho biết, trong hai điểm cấp điện của xã Bạch Ngọc, khu vực Ngọc Sơn được đánh giá là một trong những nơi khó khăn nhất. Để đưa lưới điện quốc gia về Ngọc Sơn, đơn vị đã phải đầu tư tuyến đường dây trung thế 35kV dài khoảng 8km, rẽ nhánh từ tuyến chính Khuổi Dò, cùng hệ thống đường dây hạ thế 0,4kV dẫn điện trực tiếp đến từng hộ dân. Riêng khu vực này có hàng chục vị trí cột điện đã được dựng trên địa hình đồi núi cao, nhiều khe vực sâu, việc vận chuyển vật tư, thiết bị gặp vô vàn khó khăn.
Công nhân điện lực thuộc Đội Quản lý điện lực khu vực Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) đang kiểm tra trạm biến áp treo cột tại thôn Ngọc Sơn, xã Bạch Ngọc. Ảnh: Lê Vân
Theo đó, công trình được triển khai từ tháng 3 đến tháng 10/2025, trùng với cao điểm mùa mưa lũ. Do địa hình hiểm trở, máy móc hầu như không thể tiếp cận, phần lớn các khâu thi công đều phải dựa vào sức người. Có những đoạn, công nhân và người dân địa phương phải vận chuyển cột, dây dẫn hoàn toàn thủ công qua quãng đường 20 - 25km. Mưa lớn, sạt lở xảy ra thường xuyên, nhiều thời điểm buộc phải tạm dừng thi công để bảo đảm an toàn.
Ông Vũ Đức Thắng cho biết, trong những giai đoạn cao điểm, hàng chục người dân Ngọc Sơn đã trực tiếp tham gia mở đường tạm, hỗ trợ kéo vật tư, thiết bị, góp phần giúp công trình hoàn thành đúng tiến độ.
Gia đình ông Đặng Văn Lưu là một trong những hộ dân đầu tiên tại “vùng lõm” Ngọc Sơn được thụ hưởng điện lưới quốc gia. Từ ngày có điện, căn nhà vốn chỉ lẻ loi ánh sáng, nay đã được thắp sáng ổn định. Chiếc ti vi và tủ lạnh đã được đưa vào sử dụng, giúp sinh hoạt của gia đình trở nên thuận tiện, đời sống tinh thần cũng được cải thiện rõ rệt.
Công nhân điện lực hướng dẫn ông Đặng Văn Lưu sử dụng bộ đàm để phối hợp trong quá trình đưa điện về thôn. Ảnh: Lê Vân
Chia sẻ niềm vui khi lưới điện quốc gia về thôn, ông Đặng Văn Lưu cho biết: “Khi điện được kéo về thôn, bà con ai cũng phấn khởi, vui mừng. Có điện thì trước hết là bảo đảm ánh sáng sinh hoạt, thứ hai là tạo điều kiện để người dân sử dụng các thiết bị điện phục vụ đời sống hằng ngày thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, điện lưới cũng mở ra nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của bà con”, ông Lưu nói.
Theo ông Đặng Văn Lưu, từ khi điện lưới quốc gia được đưa về, ánh sáng sinh hoạt trong thôn đã được bảo đảm, người dân yên tâm hơn trong đời sống hằng ngày, nhất là khi Tết Nguyên đán đang đến gần. “Dịp Tết này, chắc chắn bà con sẽ vui hơn rất nhiều vì có ánh sáng, có điều kiện sử dụng các thiết bị điện phục vụ sinh hoạt, đón Tết đầy đủ, ấm áp hơn”, ông Đặng Văn Lưu nhấn mạnh.
Nền tảng cho phát triển bền vững và chuyển đổi số
Không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, việc đưa điện lưới quốc gia về các “vùng lõm” còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh và giữ vững ổn định vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Theo ông Nguyễn Quốc Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Bạch Ngọc, trước khi sáp nhập, huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang cũ) đã quan tâm đến đời sống Nhân dân và thống nhất chủ trương đầu tư kéo điện lưới quốc gia cho hai thôn Ngọc Sơn và Khuổi Dò nhằm phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế. Dự án được khởi công từ cuối năm 2024 và triển khai trong năm 2025.
Trong quá trình triển khai, với sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành điện, chủ đầu tư, cấp ủy, chính quyền địa phương và sự đồng thuận cao của Nhân dân, công trình kéo điện cho hai thôn Ngọc Sơn và Khuổi Dò được thực hiện tương đối thuận lợi.
Tuyến đường điện đi qua một số thôn đã có điện, như thôn Ngọc Lâm - nơi người dân trồng nhiều cây quế, cây giang, là nguồn sinh kế chính của nhiều hộ. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, bà con đã đồng thuận hiến đất, thậm chí hiến cây trồng, tạo điều kiện cho đơn vị thi công triển khai dự án đúng tiến độ.
Đến tháng 11/2025, công trình hoàn thành, được nghiệm thu kỹ thuật và bàn giao cho Điện lực khu vực Vị Xuyên quản lý, vận hành. Hiện nay, xã Bạch Ngọc đang phối hợp hoàn thiện hồ sơ đất đai để bàn giao đầy đủ cho ngành điện quản lý theo quy định. Trước mắt, điện đã được đóng và cấp cho người dân thông qua công tơ tổng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu.
Theo đó, thực hiện chủ trương của Chính phủ, ngay sau khi có điện, cấp ủy, chính quyền xã đã phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông khảo sát, xác định vị trí lắp đặt các điểm phát sóng tại thôn Ngọc Sơn, Khuổi Dò và một số khu vực còn khó khăn khác.
Hiện nay, địa phương đang đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số, hướng tới mục tiêu để người dân vùng cao được tiếp cận các dịch vụ hành chính công trực tuyến.
Cũng theo ông Nguyễn Quốc Cường, khi có điện và có sóng, điều kiện tiếp cận thông tin của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Từ chỗ chủ yếu sử dụng điện thoại phổ thông, nhiều hộ đã bắt đầu làm quen với điện thoại thông minh để tiếp cận thông tin, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dịch vụ phục vụ đời sống, sản xuất. Đây là tiền đề quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở.