Cảnh giác với “tiếng ồn” trên không gian mạng
Sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận thông tin, nhưng đồng thời cũng khiến quá trình hình thành, lan truyền và tác động của dư luận xã hội trở nên phức tạp hơn, nhất là những sự việc nhạy cảm, vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân hoặc các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Theo Báo cáo Digital 2026: Vietnam của DataReportal, các chỉ số về kết nối số tiếp tục duy trì ở mức rất cao. Việt Nam hiện có 137 triệu kết nối di động, 85,6 triệu người dùng internet và khoảng 79 triệu người dùng mạng xã hội. Điều này đồng nghĩa phần lớn người dân đã tham gia vào hệ sinh thái số, từ việc truy cập thông tin, giải trí, mua sắm cho đến tương tác với thương hiệu. Đặc biệt, tỷ lệ người dùng internet đạt 84,2% dân số và tỷ lệ người dùng mạng xã hội đạt 77,6% dân số cho thấy môi trường số tại Việt Nam đã bước sang giai đoạn trưởng thành thay vì chỉ đơn thuần tăng trưởng về quy mô.
Công an Điện Biên làm việc với cá nhân chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng xã hội.
Với một chiếc điện thoại thông minh, bất kỳ ai cũng có thể ghi lại sự việc, đăng tải hình ảnh, video, đưa ra nhận xét và tiếp cận hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người trong thời gian ngắn. Những vấn đề trước đây chủ yếu được phản ánh qua báo chí hoặc các kênh thông tin chính thức nay có thể được đưa ra thảo luận rộng rãi, tạo điều kiện để tiếng nói của người dân được lắng nghe nhanh chóng hơn, đồng thời thúc đẩy các cơ quan chức năng quan tâm, giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Cần khẳng định rằng, sự đa dạng của ý kiến xã hội là biểu hiện bình thường của đời sống. Tuy nhiên, không thể đánh đồng ý kiến phản biện với thông tin xấu độc, càng không thể coi mọi sự phê phán đối với những hạn chế trong quản lý, điều hành là hành vi gây mất ổn định. Vấn đề đáng lo ngại nằm ở chỗ, những nhu cầu thông tin chính đáng ấy có thể bị lợi dụng để xuyên tạc bản chất sự việc, kích động tâm lý đám đông và dẫn dắt nhận thức xã hội theo những mục đích đã được tính toán.
Thực tế, hành vi thao túng dư luận không nhất thiết bắt đầu bằng những thông tin hoàn toàn bịa đặt. Đôi khi, chỉ cần cắt bỏ phần giải thích quan trọng trong phát ngôn của người có trách nhiệm, sử dụng số liệu đúng nhưng đặt sai bối cảnh, đưa hình ảnh của sự việc cũ gắn với diễn biến mới hoặc lựa chọn, cắt ghép một đoạn video ngắn có khả năng gây phẫn nộ, người phát tán đã có thể khiến công chúng hiểu sai bản chất vấn đề. Những chi tiết có thật trở thành vỏ bọc tạo độ tin cậy, trong khi thông tin cần thiết để đánh giá khách quan lại bị cố tình che giấu.
Nguy hiểm hơn, sự phát triển của mạng xã hội cho phép các nội dung sai lệch được khuếch đại bằng lượng tương tác rất lớn, tạo ra cảm giác rằng cách nhìn được lan truyền nhiều nhất cũng chính là quan điểm được xã hội thừa nhận. Hàng trăm tài khoản cùng chia sẻ, hàng nghìn bình luận có nội dung tương tự xuất hiện liên tiếp, những người có ảnh hưởng tiếp tục tham gia và chỉ sau thời gian ngắn, thông tin chưa được kiểm chứng đã có thể trở thành chủ đề chi phối các cuộc tranh luận.
Đặt trong điều kiện Việt Nam, nguy cơ thao túng dư luận cần được nhận diện trước hết ở những vấn đề gần gũi với đời sống người dân như đất đai, giải phóng mặt bằng, môi trường, thiên tai, việc làm, thu nhập, xử lý sai phạm hoặc những vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, xác minh. Đây đều là những lĩnh vực có thể phát sinh các quan điểm khác nhau và đòi hỏi sự giải thích thấu đáo, kịp thời. Nếu những băn khoăn chính đáng chậm được giải đáp, thông tin thiếu kiểm chứng rất dễ xuất hiện, còn những đối tượng có dụng ý xấu sẽ có thêm cơ hội bóp méo sự việc, khoét sâu bất đồng và kích động tâm lý xã hội.
Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, những biểu hiện ấy càng cần được xem xét thận trọng, bởi các thông tin sai lệch liên quan đến chủ trương, chính sách, hoạt động của cơ quan công quyền hoặc các vấn đề xã hội nhạy cảm có thể bị lợi dụng nhằm xuyên tạc đường lối của Đảng, phủ nhận thành tựu phát triển đất nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Để nhận diện đúng những hành vi có chủ đích, trước hết phải phân biệt được phản ánh có căn cứ với sự xuyên tạc, ý kiến phản biện với hành vi kích động, những bức xúc cần giải quyết với các thông tin được tổ chức phát tán nhằm gây bất ổn.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân. Phải phân biệt băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt; không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt”.
Hoàn thiện hành lang pháp lý
Trước những thách thức ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế pháp lý đủ rõ để nhận diện, ngăn chặn và xử lý thông tin giả, thông tin sai sự thật, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026, mang ý nghĩa thiết thực đối với công tác quản lý thông tin trên không gian mạng.
Điểm đáng chú ý của nghị định là xác lập tương đối cụ thể các khái niệm, nguyên tắc, biện pháp phòng, chống tin giả, tin sai sự thật và trách nhiệm của những chủ thể có liên quan, qua đó tạo cơ sở để việc phát hiện, kiểm chứng, cảnh báo và xử lý thông tin được tiến hành theo trình tự, thẩm quyền thay vì phụ thuộc vào những đánh giá cảm tính.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội có trách nhiệm thực hiện biện pháp kiểm soát để phòng, chống tin giả, tin sai sự thật. Ảnh minh họa
Theo Điều 3 của nghị định, tin giả là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng hoặc tác động tiêu cực đến niềm tin, định hướng tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc. Nghị định đồng thời phân biệt tin giả với tin sai sự thật là thông tin có thể là tin giả, tin sai sự thật.
Việc phân định khái niệm có ý nghĩa quan trọng, bởi trong thực tiễn không phải mọi thông tin thiếu chính xác đều có cùng tính chất, mức độ nguy hại và cũng không phải mọi nhận định khác biệt đều có thể bị coi là tin giả. Kiểm chứng thông tin phải được thực hiện trên cơ sở nội dung cụ thể, nguồn gốc, chứng cứ và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm xử lý đúng hành vi vi phạm, tránh những cách hiểu tùy tiện ảnh hưởng đến quyền phản ánh, góp ý và tiếp cận thông tin của công dân.
Nghị định quy định các bước phát hiện, kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin; gắn nhãn; công bố, cảnh báo và ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật. Đáng chú ý, việc gắn nhãn được thực hiện đối với thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ, với hình thức hiển thị cảnh báo hoặc biểu tượng nhận diện có nội dung cho biết đây là thông tin giả, tin sai sự thật. Cơ chế này góp phần cung cấp dấu hiệu cảnh báo trực tiếp cho người tiếp nhận, hạn chế nguy cơ tiếp tục chia sẻ những nội dung đã được xác định là không chính xác.
Đặc biệt, nghị định đề cập trường hợp tin giả, tin sai sự thật do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra nhưng chưa được gắn nhãn. Quy định này cho thấy việc phòng, chống thông tin giả đã được đặt trong bối cảnh phát triển công nghệ mới, khi các sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo lập có thể gây nhầm lẫn với hình ảnh, âm thanh và sự kiện có thật.
Một nội dung quan trọng khác, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội và các chủ thể cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới. Theo Điều 22, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội có trách nhiệm thực hiện biện pháp kiểm soát để phòng, chống tin giả, tin sai sự thật; thiết lập cơ chế phát hiện, tiếp nhận và xử lý nội dung vi phạm; bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thông tin, truyền thông; phối hợp, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Giữ thế chủ động bằng sự thật và trách nhiệm
Sẽ khó ngăn chặn hiệu quả việc thao túng dư luận nếu công tác phòng, chống chỉ tập trung vào phát hiện và xử lý từng thông tin sai lệch sau khi chúng đã lan truyền rộng rãi. Trong môi trường số, một nội dung bị gỡ bỏ vẫn có thể tiếp tục xuất hiện dưới hình thức khác, tài khoản vi phạm bị khóa có thể được thay thế, còn nhận thức sai đã hình thành trong công chúng thường không dễ thay đổi chỉ bằng thông báo đính chính.
Bởi vậy, yêu cầu quan trọng hàng đầu là chuyển mạnh công tác thông tin từ thế bị động giải thích, xử lý sang chủ động cung cấp, làm rõ và định hướng trên cơ sở sự thật. Với các vấn đề đang được xã hội quan tâm, nhất là vụ việc nhạy cảm liên quan đến quyền lợi của người dân, cơ quan có trách nhiệm cần công khai kịp thời những thông tin được xác minh, giải thích rõ nội dung còn đang được kiểm tra, những vấn đề chưa thể kết luận và tiến độ giải quyết theo thẩm quyền.
Công khai thông tin không đồng nghĩa với việc phải đưa ra kết luận khi chưa có đủ chứng cứ, nhưng sự chậm trễ kéo dài hoặc cách trả lời chung chung, thiếu trọng tâm rất dễ khiến những khoảng trống thông tin bị lấp đầy bằng đồn đoán. Công chúng có thể chấp nhận việc cơ quan chức năng cần thêm thời gian để làm rõ một sự việc. Trong nhiều trường hợp, việc giải thích thẳng thắn những điều đã biết, chưa biết và trách nhiệm giải quyết có sức thuyết phục hơn những lời khẳng định mang tính trấn an nhưng thiếu căn cứ cụ thể.
Muốn làm được điều đó, cần nâng cao trách nhiệm phát ngôn, khả năng dự báo và xử lý tình huống truyền thông của các cơ quan, tổ chức. Những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh kế, quyền lợi của người dân phải được nhận diện sớm về nguy cơ phát sinh tranh luận, chuẩn bị đầy đủ dữ kiện và có đầu mối cung cấp thông tin rõ ràng. Khi xảy ra vụ việc phức tạp, sự phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, đơn vị quản lý địa bàn và bộ phận truyền thông phải được thực hiện kịp thời, thống nhất, tránh tình trạng mỗi nơi giải thích một cách hoặc đùn đẩy trách nhiệm phát ngôn.
Cùng với cơ quan quản lý, báo chí chính thống phải phát huy mạnh mẽ vai trò kiểm chứng, giải thích và cung cấp thông tin có giá trị. Đặc biệt, báo chí cần tăng cường các sản phẩm truyền thông chính sách, kiểm chứng thông tin, phân tích những vấn đề được dư luận quan tâm bằng phương pháp thể hiện dễ tiếp cận nhưng phải bảo đảm tính chính xác, khách quan. Các hình thức như hỏi - đáp, đồ họa dữ liệu, video giải thích hoặc đối thoại với người có trách nhiệm chỉ có giá trị khi thực sự giải quyết những thắc mắc của công chúng, thay vì đơn thuần thay đổi cách trình bày của những nội dung đã được công bố.
Sức thuyết phục của thông tin chính thống phải được xây dựng ngay trong quá trình phản ánh đời sống, giải thích chủ trương, chính sách, làm rõ những thành tựu phát triển đất nước và thẳng thắn nhận diện các hạn chế, yếu kém cần khắc phục.
Theo Nghị định số 328/2026/NĐ-CP: Tin giả, tin sai sự thật là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, gồm các loại thông tin: Thông tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin giả mạo, thông tin bịa đặt, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc.