Trong cấu trúc của khu vực kinh tế nhà nước, hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước được Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước xác định là lực lượng tiên phong, dẫn dắt: vừa dẫn vốn cho những lĩnh vực then chốt, vừa là công cụ để Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ, giữ vững ổn định vĩ mô.
Vị trí đặc biệt của ngân hàng trong khu vực kinh tế nhà nước
Như đã phân tích ở kỳ trước, kinh tế nhà nước không chỉ là các doanh nghiệp nhà nước. Đó còn là tài nguyên quốc gia, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ và các tổ chức tín dụng nhà nước. Trong những thành tố ấy, ngân hàng giữ một vị trí rất đặc biệt, bởi vốn chính là “máu” của nền kinh tế. Một tuyến cao tốc, một nhà máy điện, một cảng biển hay một doanh nghiệp khởi nghiệp cần nguồn vốn được cung ứng kịp thời, thuận lợi với chi phí hợp lý mới có thể vận hành và phát triển.
Ngành Ngân hàng vì thế đảm nhiệm đồng thời nhiều chức năng. Đây là kênh để Nhà nước thực thi chính sách tiền tệ, điều hành lãi suất, tỷ giá, kiểm soát lạm phát. Đồng thời thực thi vai trò trung gian tài chính, huy động và phân bổ nguồn lực cho sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển. Không dừng ở chức năng kinh doanh tiền tệ, ngành Ngân hàng còn thực hiện những nhiệm vụ gắn với trách nhiệm của Nhà nước đối với nền kinh tế và xã hội: góp phần ổn định thị trường, hỗ trợ khắc phục thiên tai, cho vay chính sách, tài trợ các dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Và đây cũng là lực lượng được Nhà nước giao những nhiệm vụ mà các thành phần kinh tế khác khó hoặc không thể đảm nhận.
Theo số liệu được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam dẫn lại trong năm 2026, nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chiếm khoảng 40 - 45% tổng tài sản và hơn 45% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. Nói cách khác, gần một nửa dòng vốn tín dụng chảy vào nền kinh tế đi qua khối ngân hàng này.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra sứ mệnh mới, tiêu chuẩn mới
Nghị quyết số 79-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại nhà nước lớn, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực then chốt, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Với tổ chức tín dụng nhà nước, Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra mục tiêu: có ít nhất ba ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản; bốn ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, giữ vai trò chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường.
Đi cùng mục tiêu là những yêu cầu về cơ chế: thứ nhất, tăng cường năng lực tài chính, trong đó có việc bổ sung vốn điều lệ để các ngân hàng đủ sức mở rộng quy mô tín dụng theo yêu cầu phát triển; thứ hai, tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận với hoạt động kinh doanh thông thường, để đánh giá đúng hiệu quả của từng loại hoạt động; thứ ba, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trên tinh thần ấy, các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước vẫn là những doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng phải biết hài hòa giữa việc thực hiện nhiệm vụ chính sách của Nhà nước với mục tiêu kinh doanh. “Chủ đạo” ở đây không có nghĩa là bao cấp hay độc quyền, mà là dẫn dắt bằng năng lực, bằng quy mô và bằng trách nhiệm xã hội.
Tốc độ cụ thể hóa chủ trương cũng đáng ghi nhận. Ban Chỉ đạo Quốc gia triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban cũng đã họp phiên thứ nhất vào ngày 01/02/2026. Ngày 24/02/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW; ngay sau đó Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 464/QĐ-NHNN về Chương trình hành động của ngành để cụ thể hóa các mục tiêu đối với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước. Từ nghị quyết của Đảng đến chương trình hành động của Chính phủ và của ngành ngân hàng được triển khai nhanh chóng, khẩn trương: đó là quyết tâm đưa chủ trương vào cuộc sống.
Dẫn vốn cho tăng trưởng
Vai trò đầu tiên của ngành Ngân hàng là bảo đảm dòng vốn cho tăng trưởng. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024, trong khi tăng trưởng tín dụng cả năm ước đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong khoảng 5 năm trở lại đây. Tại họp báo Chính phủ thường kỳ ngày 03/10/2026, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết: đến ngày 30/9/2026, tổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng là khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm 2025.
Biểu đồ: Tăng trưởng tín dụng, huy động vốn và thị phần của khối ngân hàng thương mại nhà nước.
Vậy câu hỏi đặt ra là tăng trưởng tín dụng vào đâu sẽ tạo được giá trị gia tăng, thúc đẩy phát triển kinh tế. Những lĩnh vực nào được ưu tiên, những ngành nào cần phải kiểm soát. Hiệu quả dẫn vốn không chỉ thể hiện ở quy mô tín dụng tăng lên, mà còn thể hiện ở việc đưa nguồn vốn đúng định hướng, dẫn dắt vào các lĩnh vực ưu tiên, những ngành kinh tế trọng điểm tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. Định hướng này được thể hiện ngay trong cơ chế điều hành tín dụng từng thời kỳ. Năm 2026, trong quá trình điều hành, Ngân hàng nhà nước đó triển khai các giải pháp nhằm tạo dư địa cho các tổ chức tín dụng cấp tín dụng đối với một số nhu cầu quan trọng phục vụ tăng trưởng kinh hế như: Một số khoản cho vay thuộc lĩnh vực nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất được áp dụng cơ chế không tính phần dư nợ tăng thêm vào dư nợ tín dụng bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực này; Loại trừ dư nợ cấp tín dụng phát sinh mới hàng năm, cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại cấp tín dụng đối với doanh nghiệp để triển khai, đầu tư các dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển vùng, địa phương theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ để thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”. Qua đó cho thấy chính sách tín dụng linh hoạt của Ngân hàng nhà nước không chỉ hỗ trợ mở rộng khả năng tiếp cận vốn mà còn góp phần tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Với thị phần tín dụng gần một nửa toàn hệ thống, các ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò “đầu tàu” trong những khoản vay quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài như hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghiệp nền tảng: những lĩnh vực mà nếu chỉ trông chờ vào khu vực tư nhân hay thị trường tự điều tiết, nền kinh tế sẽ khó có đủ nguồn lực để đi nhanh và đi xa.
Giữ nhịp ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống
Vai trò thứ hai là neo giữ ổn định vĩ mô. Trong sáu tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành để các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp, qua đó có điều kiện hỗ trợ nền kinh tế. Khi mặt bằng lãi suất thị trường chịu áp lực tăng do cân đối nguồn vốn, ngày 09/4/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với toàn bộ 62 ngân hàng thương mại để kiềm chế đà tăng lãi suất; ngày 21/5/2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các chi nhánh khu vực giám sát, ổn định lãi suất trên địa bàn. Việc điều hành lãi suất chủ động, kịp thời là biểu hiện rõ của vai trò “kiến tạo” mà Nghị quyết số 79-NQ/TW đề cao.
Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống tính đến cuối tháng 6/2026 (không bao gồm các ngân hàng yếu kém) có xu hướng giảm nhẹ về 1,51% từ mức 1,69% cuối năm 2025; trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn hệ thống xử lý được 141,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Năm 2024, khi thị trường vàng biến động mạnh, các ngân hàng thương mại nhà nước cùng Công ty SJC được giao trực tiếp bán vàng miếng đến người dân theo chỉ đạo của Chính phủ để bình ổn thị trường. Mỗi khi thị trường cần một lực lượng đủ lớn, đủ uy tín để thực thi chính sách, các ngân hàng này đều sẵn sàng nhận nhiệm vụ.
Chia sẻ khó khăn cùng người dân và doanh nghiệp
Vai trò thứ ba thể hiện trách nhiệm đồng hành của ngành Ngân hàng với nền kinh tế, không chỉ trong việc cung ứng vốn mà còn ở khả năng điều chỉnh phương thức hỗ trợ phù hợp với những khó khăn, vướng mắc và yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Đây là vai trò mang đậm bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: chia sẻ khó khăn. Sự đồng hành còn thể hiện ở việc thiết kế và triển khai các chương trình tín dụng có lãi suất, điều kiện và đối tượng phù hợp với yêu cầu của từng lĩnh vực, từng thời kỳ. Đặc biệt, khi nền kinh tế đối mặt với những cú sốc lớn, vai trò chia sẻ khó khăn của ngành Ngân hàng được thể hiện rõ qua các giải pháp hỗ trợ trên diện rộng. Trong đại dịch COVID-19; bão Yagi… các ngân hàng thương mại đã chủ động rà soát thiệt hại, giảm lãi suất, cơ cấu thời gian trả nợ cho các doanh nghiệp và cá nhân gặp khó khăn…
Từ cái cách thủ tục thường xuyên đến việc triển khai các chương trình tín dụng theo lĩnh vực và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân trong những giai đoạn đặc biệt khó khăn, ngành Ngân hàng đã thể hiện vai trò đồng hành trên cả phương diện thể chế, nguồn vốn và trách nhiệm xã hội. Đây là những chức năng khó có thành phần kinh tế nào khác sẵn lòng, hoặc đủ năng lực, để gánh vác một cách ổn định và lâu dài.
Vốn tín dụng ngân hàng là mạch dẫn cho hạ tầng, sản xuất và xuất khẩu. Ảnh minh họa.
Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới
Bên cạnh kết quả đạt được, ngành Ngân hàng vẫn đứng trước không ít áp lực. Tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn trong nhiều năm liên tiếp: giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng tín dụng bình quân cao hơn huy động khoảng 3,8 điểm phần trăm/năm, đẩy tỷ lệ cho vay trên huy động của toàn hệ thống lên khoảng 111 - 112%; đến giữa tháng 6/2026, tín dụng tăng 6,38% trong khi huy động tăng 4,3%. Chênh lệch này đặt ra bài toán cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, bảo đảm an toàn thanh khoản.
Để đạt mục tiêu trở thành những định chế tài chính mạnh theo chuẩn mực khu vực, các ngân hàng thương mại nhà nước cần đồng thời giải quyết nhiều việc: tăng vốn tự có; nâng cao năng lực quản trị rủi ro; đẩy mạnh chuyển đổi số; đào tạo đội ngũ cán bộ chất lượng cao; và giữ vững kỷ cương, minh bạch trong từng khoản cấp tín dụng. Những yêu cầu ấy không mâu thuẫn với nhiệm vụ chính trị mà là điều kiện để nhiệm vụ ấy được hoàn thành bền vững.
Nhìn từ thực tiễn đó, có thể thấy khối ngân hàng thương mại nhà nước có quy mô lớn, hiệu quả kinh doanh tốt, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, kiểm soát rủi ro, đóng góp đầy đủ cho ngân sách và gánh vác những nhiệm vụ chính sách. Những hạn chế còn tồn tại ở một số đơn vị là vấn đề của quản trị và cơ chế vận hành cần khắc phục theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 79-NQ/TW mở ra không gian phát triển mới cho hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước: được trao thêm cơ chế, nguồn lực, nhưng cũng phải gánh trách nhiệm lớn hơn về hiệu quả và minh bạch. Khi các ngân hàng này vươn tầm khu vực, nguồn vốn của nền kinh tế không chỉ dồi dào hơn mà còn được phân bổ hiệu quả hơn. Và chính dòng vốn ấy là nền tảng để ngành Ngân hàng tiếp sức cho khu vực kinh tế tư nhân, câu chuyện của Kỳ 3.
Còn nữa...