Công nghiệp và thị trường trong nước duy trì đà tăng
Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương phát hành ngày 8/9, Kinh tế Việt Nam tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong 8 tháng năm 2026, nổi bật ở sản xuất công nghiệp, đầu tư, tiêu dùng và hoạt động xuất nhập khẩu. Báo cáo này dựa trên kết quả của Hội thảo Tình hình kinh tế - xã hội thế giới và trong nước tác động đến phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại Việt Nam do Viện tổ chức ngày 4/9.
Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Lê An
Báo cáo ghi nhận chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 8/2026 ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng, IIP tăng 11,9%, cao hơn mức tăng 8,5% của cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng tại cả 34 tỉnh, thành phố.
Diễn biến của Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) cũng cho thấy hoạt động sản xuất tiếp tục mở rộng. PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 8 đạt 53,3 điểm, tăng từ mức 52,9 điểm trong tháng 7 và duy trì trên ngưỡng 50 điểm tháng thứ 14 liên tiếp. Sản lượng tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn hai năm, trong khi đơn hàng mới tiếp tục cải thiện nhờ nhu cầu khách hàng và việc đưa sản phẩm mới ra thị trường.
Thị trường trong nước tiếp tục đóng vai trò hỗ trợ tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 ước đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%; nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 7,6%.
Những con số này cho thấy động lực tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong 8 tháng không chỉ đến từ khu vực sản xuất phục vụ xuất khẩu mà còn được hỗ trợ bởi đầu tư và nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Xuất khẩu tăng trưởng mạnh
Hoạt động ngoại thương tiếp tục mở rộng với quy mô lớn. Tháng 8/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, tăng 31,7% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 26%, còn nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, tăng 37,9%.
Tính chung 8 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của 8 tháng từ trước đến nay. Xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%; nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD, tăng 35,3%.
TS. Hoàng Trường, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương chủ trì hội thảo. Ảnh: Lê An
Cơ cấu thương mại cho thấy hoạt động nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu gắn với nhu cầu đầu vào cho sản xuất. Nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,11% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,17% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đáng chú ý, điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng có quy mô lớn nhất ở cả hai chiều. Trong 8 tháng, xuất khẩu nhóm này đạt 101,059 tỷ USD, tăng 51,1%; trong khi nhập khẩu đạt 161,63 tỷ USD, tăng 68,3%. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác xuất khẩu đạt 47,289 tỷ USD, tăng 26,4%; nhập khẩu đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1%.
Cơ cấu trên phản ánh mức độ gắn kết ngày càng lớn của sản xuất Việt Nam với chuỗi cung ứng khu vực, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn linh kiện, máy móc và nguyên liệu nhập khẩu.
Khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động xuất khẩu, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng. Khu vực này xuất khẩu 300,37 tỷ USD và nhập khẩu 290,23 tỷ USD. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 74,47 tỷ USD nhưng nhập khẩu 105,07 tỷ USD.
Trong thời gian tới, thương mại quốc tế tiếp tục là một yếu tố có ảnh hưởng lớn tới triển vọng kinh tế Việt Nam. Báo cáo nhận định xung đột tại Trung Đông, biến động giá năng lượng và chính sách thuế quan của các nền kinh tế lớn đang làm môi trường thương mại trở nên khó dự báo hơn.
Đối với Việt Nam, sức ép không chỉ đến từ các biện pháp thuế quan mà còn từ yêu cầu về xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, lao động, sở hữu trí tuệ và chống gian lận thương mại. Trong khi đó, EU tiếp tục nâng yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, bao bì tuần hoàn và kiểm soát phát thải carbon.
Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt với những ngành xuất khẩu chủ lực.
Cùng với đó, việc EVFTA bước sang năm thứ sáu tiếp tục tạo điều kiện mở rộng thương mại Việt Nam - EU. Theo khảo sát được nêu trong báo cáo, 50% doanh nghiệp EU tại Việt Nam cho biết đã trực tiếp hưởng lợi từ ưu đãi thuế quan của EVFTA; 66% ghi nhận mức tiết kiệm chi phí từ 5% đến 30%.
Đối với nền kinh tế Việt Nam, bảo đảm năng lượng tiếp tục có ý nghĩa quan trọng khi sản xuất công nghiệp tăng nhanh. Trong tháng 8, một số hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) bắt đầu được đưa vào vận hành tại các trạm biến áp 110 kV thuộc EVNNPC. Việc ứng dụng pin lưu trữ năng lượng (BESS) bước đầu tạo thêm công cụ điều tiết phụ tải, hỗ trợ giảm quá tải cục bộ và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện tại các khu vực có phụ tải công nghiệp cao. Tuy nhiên, báo cáo đánh giá quy mô BESS đưa vào vận hành trong tháng 8 còn nhỏ so với phụ tải toàn hệ thống, nên tác động trước mắt chủ yếu mang tính thử nghiệm và cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá khả năng nhân rộng.
Theo định hướng được nêu trong báo cáo, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường thực thi các FTA sẽ là những nhiệm vụ quan trọng nhằm củng cố sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.