Trung tướng Phạm Xuân Thệ - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 - một trong những nhân chứng đặc biệt của thời khắc lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập.
Khi đó, ở tuổi 28, ông là Đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 (Đoàn Đông Sơn) thuộc Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông được Ban chỉ huy Trung đoàn bộ binh 66 giao nhiệm vụ cùng một số sĩ quan trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 7, là lực lượng đi đầu cùng xe tăng của binh đoàn thọc sâu Quân đoàn 2 tiến công vào nội đô Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập. Đồng thời là người trực tiếp áp giải Tổng thống Dương Văn Minh ra Đài Phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Nhân kỷ niệm 51 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trò chuyện cùng ông ngay tại tư gia.
Trung tướng Phạm Xuân Thệ chia sẻ về bức ảnh và bối cảnh câu nói "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có gì bàn giao cả". Trong bức ảnh, người đứng ngoài cùng bên trái đội mũ cối là ông, người mặc áo đen đứng ngoài cùng bên phải là Tổng thống Dương Văn Minh. Ảnh: Nguyên Khánh
- Thưa Trung tướng, trưa ngày 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập, không có phương tiện liên lạc để xin ý kiến cấp trên, ông đã chủ động đưa ra quyết định "Bắt làm tù binh, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao". Sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại, điều gì đã thôi thúc bản lĩnh của người lính trong thời khắc lịch sử ấy?
Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Sáng 30/4/1975, sau khi đánh chiếm cầu Sài Gòn rồi cầu Thị Nghè, bắn cháy 3 xe thiết giáp của địch, được một người dân dẫn đường, chúng tôi tiến thẳng vào Dinh Độc Lập trên chiếc xe Jeep lấy được tại Đà Nẵng. Khi xe tăng húc bật cánh cổng, tôi cùng đồng đội bám theo và dừng lại bên trái dinh. Tại chiếu nghỉ cầu thang tầng trệt, chúng tôi gặp Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá Tổng thống Dương Văn Minh, ông ta nói, nội các đang chờ ở phòng họp tầng 2, mời quân giải phóng vào làm việc.
Vào phòng, ông Hạnh chỉ vào người đàn ông da ngăm đen, mặc áo bốn túi, giới thiệu là Tổng thống Dương Văn Minh; người thấp bên cạnh mặc complê là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.
Tổng thống Dương Văn Minh đứng dậy nói: "Chúng tôi đã biết quân giải phóng tiến công nội đô, đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao". Ngay lập tức, tôi đáp: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có gì bàn giao cả". Rồi kiên quyết bắt ông Minh và ông Mẫu ra Đài phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Ông Minh nói, muốn được đầu hàng tại đây, ra bên ngoài không đảm bảo an toàn do còn đánh nhau. Tôi trấn an: “Chúng tôi đã làm chủ thành phố và bảo đảm an toàn cho ông đi ra đài phát thanh”.
Đó là bản lĩnh của người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chúng tôi đã trải qua chiến trường từ năm 1968, chỉ khắc cốt một mệnh lệnh duy nhất: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút...". Khi bắt được kẻ thù, tôi chỉ nghĩ phải buộc họ đầu hàng nhanh nhất để chấm dứt chiến tranh.
Khái niệm "bàn giao" hoàn toàn không có trong suy nghĩ, bởi chấp nhận "bàn giao" tức là thừa nhận chính quyền Sài Gòn vẫn còn tư cách pháp lý.
Sau này tham khảo các tài liệu, tôi càng thấy quyết định đó hoàn toàn đúng đắn. Khoảng 9 - 10 giờ sáng 30/4, ông Dương Văn Minh đã ra nhật lệnh yêu cầu quân đội Sài Gòn dừng tại chỗ, giữ vị trí, tức vẫn tiếp tục chiến đấu.
Tại Cần Thơ, nhiều quân địch ngoan cố, lựa chọn cố thủ, chống cự đến tận ngày 2 - 3/5, sau đó nhiều tên chọn tự sát. Nếu Sài Gòn cũng kéo dài như vậy, thành phố sẽ tan hoang chứ không thể nguyên vẹn như khi ta giải phóng.
Trung tướng Phạm Xuân Thệ - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 chia sẻ bên bức ảnh áp tải “Tổng thống Dương Văn Minh” ra đài phát thanh. Ảnh: Nguyên Khánh
- Thưa Trung tướng, sau khi áp giải Tổng thống Dương Văn Minh ra Đài Phát thanh Sài Gòn, ông là người chấp bút bản tuyên bố đầu hàng và đã có một tình huống đáng nhớ khi ông Minh từ chối tự nhận là "Tổng thống". Xin ông kể lại chi tiết khoảnh khắc đó?
Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Tại Đài Phát thanh, lúc đó do Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 của chúng tôi đã chiếm giữ, tôi cùng các trợ lý tác chiến, tuyên huấn, dân vận, mỗi người mỗi câu, mỗi ý, bàn nhau soạn bản tuyên bố. Trong đó, tôi là người chấp bút. Sau khi viết xong đưa ông Dương Văn Minh đọc thì ông nói: "Tôi không thể đọc được chữ của ông". Tôi đã phải đọc lại cho ông Minh chép.
Ông ấy viết nhưng không đúng ý: "Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, nay tôi bàn giao chính quyền cho quân giải phóng". Tôi gạch chữ "bàn giao", yêu cầu viết lại.
Khi đang viết thì đồng chí Trung tá Bùi Văn Tùng - Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 có mặt. Từ đó, đồng chí Bùi Văn Tùng cùng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời tuyên bố.
Trung tướng Phạm Xuân Thệ chỉ người đứng cầm tờ giấy là ông tại Đài phát thanh. Trong ảnh là Tổng thống Dương Văn Minh (người ngồi mặc áo đen), nhà báo người Tây Đức (ngồi bên cạnh). Ảnh: Nguyên Khánh
Khi đưa cho Dương Văn Minh đọc, đến đoạn "Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn...", ông ấy dừng lại, nói: "Tôi chỉ là Đại tướng thôi, vì ông Hương bỏ chạy nên tôi mới vào nhận". Tôi đập tay xuống bàn: "Dù một ngày hay một giờ, ông cũng phải là Tổng thống". Sau đó ông ấy mới đồng ý đọc tiếp.
Quá trình ghi âm gặp sự cố do băng cassette bị rối nên phải làm lại nhiều lần. Nhà báo Tây Đức Börries Gallasch đã đưa máy cassette nghiệp vụ của ông cho chúng tôi mượn ghi âm. Khoảng 13 giờ 30 ngày 30/4/1975, lời tuyên bố đầu hàng chính thức được phát đi. Tiếp đó, đồng chí Bùi Văn Tùng thay mặt Quân giải phóng đọc trực tiếp lời chấp nhận đầu hàng qua micro.
Về chi tiết lịch sử này, ngày 14/3/2022, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã có Kết luận số 974-KL/QUTW nêu rõ: tại Đài Phát thanh, Đại úy Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh; sau đó đồng chí Bùi Văn Tùng cùng bộ phận cán bộ Trung đoàn 66 tiếp tục hoàn chỉnh; riêng lời Tuyên bố chấp nhận đầu hàng do đồng chí Bùi Văn Tùng soạn thảo và trực tiếp đọc.
Những bức ảnh do phóng viên hãng tin AP chụp. Ảnh: NVCC
- Trong khoảnh khắc đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra Đài Phát thanh trên chiếc xe Jeep, ông đã trực tiếp chứng kiến những diễn biến tâm lý và sự thừa nhận thất bại của đối phương. Từ những đối thoại đó, ông suy nghĩ gì về giá trị của sự khoan dung và tinh thần hòa hợp dân tộc khi chúng ta kết thúc chiến tranh bằng tiếp nối hòa bình?
Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Khi ngồi trên xe Jeep, ra khỏi cổng Dinh, tôi thấy xe tăng, xe chở bộ binh và người dân tiến vào rất đông. Tôi hỏi ông Dương Văn Minh: "Ông thấy sức mạnh của quân giải phóng thế nào?". Ông Minh trả lời: "Khi quân giải phóng tiến công vào nội đô, chúng tôi biết rằng đã thất bại".
Tôi hỏi tiếp: "Biết thất bại, sao ông không tuyên bố đầu hàng từ trước mà để chúng tôi phải đánh vào tận sào huyệt?".
Ông Minh thú nhận: "Khi quân giải phóng chưa vào nội đô mà tôi đã tuyên bố đầu hàng, bên dưới còn nhiều người không đồng tình, họ sẽ khử tôi mất".
Câu trả lời ấy khiến tôi nhận ra: dù vài giờ trước còn ở hai đầu chiến tuyến, nhưng giờ đây, họ đã chấp nhận thất bại và đầu hàng. Người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam được giáo dục cả tinh thần quả cảm trong chiến đấu lẫn tính nhân đạo của dân tộc. Khi địch đã nhận thất bại, chúng ta cũng nên khoan dung bởi truyền thống dân tộc ta vốn yêu chuộng hòa bình, tự do.
Chính tinh thần khoan dung đó kết thúc chiến tranh không bằng sự trừng phạt mà bằng hòa giải, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết, hiếm thấy trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới. Nhân dân Sài Gòn ban đầu rất sợ bị tàn sát do tuyên truyền sai lệch, nhưng khi quân giải phóng tiến vào, họ đã đổ ra đường bắt tay, chúc mừng.
Đây là bài học cốt lõi cần được thế hệ hôm nay kế thừa và phát huy để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Mỗi khi trở lại Dinh Độc Lập, ông thường nhắc về những đồng đội đã ngã xuống ngay trước giờ chiến thắng. Trong khoảnh khắc lá cờ giải phóng tung bay trên nóc dinh, ông nghĩ đến điều gì?
Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Là người lính chiến đấu liên tục từ năm 1968 đến 1975, tôi luôn đau đáu về sự hy sinh của đồng đội. Sư đoàn 304 chúng tôi tổn thất nhiều cán bộ, chiến sĩ, riêng trận Thượng Đức, quân ta hy sinh 921 đồng chí. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều đồng đội của Trung đoàn 9 hy sinh tại căn cứ Nước Trong.
Đặc biệt đau xót là trận đánh tại cầu Sài Gòn sáng 30/4, Đại úy Ngô Văn Nhỡ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Xe tăng 1, Lữ đoàn 203 – đã hy sinh ngay trên cầu, chỉ vài giờ trước khi đất nước toàn thắng, đau xót lắm!!!
Chiến thắng Thượng Đức, "cánh cửa thép" bảo vệ Đà Nẵng là bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, song, cái giá phải trả là hàng trăm cán bộ, chiến sĩ ngã xuống.
Hằng năm, tôi vẫn vào tri ân, thắp hương cho đồng đội tại các nghĩa trang liệt sĩ. Cùng Nhân dân Quảng Nam, chúng tôi đã xây dựng tượng đài Thượng Đức để ghi nhớ công ơn các đồng đội đã ngã xuống ngay tại mảnh đất này. Tôi tin, chính sự hy sinh của các anh đã phù hộ để chúng tôi lập được chiến công trong trận đánh cuối cùng đó.
- Thưa Trung tướng, sau 51 năm, đất nước được hoà bình, độc lập, trên hành trình kiến thiết đất nước, đặc biệt trong các trụ cột công nghiệp, thương mại của một nền kinh tế độc lập, tự chủ, ông kỳ vọng gì ở cộng đồng doanh nghiệp và thế hệ trẻ, những người đang gánh vác sứ mệnh đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?
Trung tướng Phạm Xuân Thệ: Sau 50 năm trở lại chiến trường xưa, chứng kiến TP. Hồ Chí Minh thay đổi nhanh chóng, tôi vô cùng tự hào. Hòa bình, độc lập là tiền đề tiên quyết để phát triển kinh tế. Nếu trưa 30/4/1975 không buộc Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, Sài Gòn sẽ không thể nguyên vẹn để hôm nay trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước. Mỗi nhà máy, mỗi khu công nghiệp, mỗi tuyến đường cao tốc đều được xây dựng trên nền tảng máu xương của bao thế hệ.
Tôi mong cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ ngành Công Thương và thế hệ trẻ luôn giữ tinh thần "thần tốc, táo bạo" của Bộ Tổng Tư lệnh năm xưa, “thần tốc trong đổi mới, táo bạo trong sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích quốc gia”. Trong chiến tranh, người lính dám đặt cược sinh mạng vì độc lập dân tộc. Trong thời bình, doanh nhân, kỹ sư, nhà khoa học cần dám đặt cược trí tuệ, vốn liếng vào những lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp nền tảng, năng lượng tái tạo - những hướng đi quyết định vị thế quốc gia.
Phải phấn đấu để 10, 20 năm nữa và những năm tiếp theo, đất nước phát triển hơn nhiều so với hôm nay, đó mới là cách "trả nợ" xứng đáng với sự hy sinh của những người anh hùng dân tộc và là cách thế hệ trẻ hôm nay kế tục sự nghiệp của lớp lớp cha anh đi trước.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tướng!
Trung tướng Phạm Xuân Thệ sinh năm 1947 tại Kim Bảng, Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Ông nhập ngũ năm 1967 khi vừa tròn 20 tuổi - là người lính dày dạn trận mạc, từng tham gia các chiến trường khốc liệt như Khe Sanh, Nam Lào, Quảng Trị và Thượng Đức. Trong sự nghiệp của mình, ông từng giữ các chức vụ: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, Tư lệnh Quân đoàn 2 và Tư lệnh Quân khu 1. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, ông được trao tặng nhiều huân chương cao quý và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, tháng 4/2011.