Tháng Tư, ký ức không chỉ trở về bằng những trang sử, mà hiện hữu trong ánh mắt, giọng kể của những người đã đi qua chiến tranh. Tôi tìm gặp họ, những người lính năm xưa để nghe lại câu chuyện của một thời lửa đạn, nơi mỗi con đường hành quân đều in dấu niềm tin vào ngày đất nước liền một dải.
Những chuyến xe mở đường cho đại thắng
Tôi gặp ông Phạm Cao Đường (sinh năm 1954, xã Đak Pơ, tỉnh Gia Lai) vào một buổi chiều lặng gió. Người cựu binh dáng gầy, giọng nói chậm rãi, nhưng mỗi câu chuyện ông kể lại như vẫn còn nguyên nhịp đập của những năm tháng chiến tranh.
Ông Đường quê ở Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên). Năm 1972, khi vừa tròn 18 tuổi, ông Đường viết đơn tình nguyện nhập ngũ, rời quê nhà theo tiếng gọi non sông. Những ngày đầu trong quân ngũ, ông được đưa đi học lái xe tại Quân khu Tả Ngạn. Sáu tháng huấn luyện khép lại bằng kết quả xuất sắc, ông được giữ lại làm trợ giáo, một vị trí mà nhiều người nghĩ sẽ an toàn hơn. Nhưng chiến tranh không cho phép người lính trẻ đứng ngoài cuộc.
Mỗi câu chuyện ông Phạm Cao Đường kể lại như vẫn còn nguyên nhịp đập của những năm tháng chiến tranh.
Năm 1973, ông nhận lệnh hành quân vào Tây Nguyên. Từ miền Bắc, những chuyến xe nối dài vượt núi, băng rừng, đưa ông đến vùng đất Cheo Reo, nơi được xem là “yết hầu” của chiến trường. Tại đây, ông tiếp tục học lái xe đặc chủng, chuẩn bị cho những nhiệm vụ cam go phía trước.
“Lái xe thời chiến không giống bây giờ. Ban ngày phải giấu xe trong rừng, đêm mới chạy. Đường thì toàn dốc, toàn đá, có đoạn vừa đi vừa dò từng mét vì sợ mìn, sợ phục kích”, ông kể.
Những năm từ 1973 đến 1975, ông cùng đồng đội rong ruổi khắp các chiến trường nóng bỏng như: Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Pleiku. Những chuyến xe chở vũ khí, đạn dược không chỉ là nhiệm vụ hậu cần, mà là mạch máu nối dài cho các chiến dịch lớn.
Ông nói, có những đêm xe chạy không bật đèn, chỉ dựa vào ánh sao và trí nhớ. Có lúc bom rơi ngay phía trước, đất đá văng kín đường, nhưng vẫn phải tìm cách vượt qua.
Tháng 4/1975, đơn vị ông nhận nhiệm vụ đặc biệt: vận chuyển vũ khí phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng thời tham gia đánh căn cứ Đồng Dù, một trong những tuyến phòng thủ kiên cố nhất phía Tây Bắc Sài Gòn.
Ông kể, ai cũng hiểu đó sẽ là trận đánh quyết liệt. Nhưng không ai chùn bước. “Lúc đó chỉ nghĩ đơn giản: phải làm sao để hàng tới kịp, để bộ đội có đạn mà đánh”, ông nói.
Rồi thời khắc lịch sử cũng đến. Ngày 30/4, đoàn xe của Tiểu đoàn 827 hòa cùng các cánh quân tiến vào Sài Gòn. Trên đường đi, không còn những trận đánh ác liệt như trước, thay vào đó là dòng người đổ ra hai bên đường, vẫy tay chào đón. “Không còn tiếng súng, chỉ còn tiếng reo vui. Lúc đó mới thật sự tin là chiến tranh đã kết thúc…”, ông nhớ lại.
Ba ngày sau, ông cùng đơn vị được vào thăm Dinh Độc Lập. Người lính năm nào đứng lặng rất lâu trước khoảnh khắc mà cả dân tộc đã chờ đợi.
Họ đã đi qua chiến tranh như thế
Rời câu chuyện với ông Đường, tôi tìm đến gặp ông Đoàn Đồng Khởi (sinh năm 1952, xã Đắk Pơ), một người lính khác, cũng đi qua những ngày tháng Tư lịch sử.
Cựu chiến binh Đoàn Đồng Khởi sum vầy bên gia đình.
Ông sinh ra và lớn lên ở xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình). Tiếp bước người anh cả, năm 1970, ông viết đơn tình nguyện lên đường đánh giặc. Ông và nhiều chàng trai miền Bắc tuổi đôi mươi hành quân thẳng tiến vào miền Đông Nam Bộ và được biên chế vào Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 174, Sư đoàn 5.
Sau khi huấn luyện, ông Khởi cùng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Những ngày tháng Tư lịch sử, đơn vị của ông nhận lệnh cấp trên phối hợp tác chiến với các đơn vị của Sư đoàn 5 tiến công theo hướng Tây Nam Sài Gòn giải phóng thị xã Tân An và đánh chặn quốc lộ 4 không cho địch rút về Cần Thơ, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ông kể, đó là những ngày căng thẳng nhất. Mỗi trận đánh đều có thể là trận cuối cùng. Nhưng rồi đến trưa 30/4, mọi thứ thay đổi. “Không còn tiếng súng. Chỉ còn tiếng người reo mừng. Chúng tôi ôm nhau… có người cười, có người khóc”, ông Khởi nhớ lại.
Niềm vui chiến thắng xen lẫn nỗi đau khi nhiều đồng đội đã không thể trở về. Những người lính sống sót như ông mang theo ký ức ấy suốt cuộc đời. Còn bản thân ông Khởi, giờ đây, mỗi khi trái gió trở trời, toàn thân ông đau nhức bởi di chứng của chiến tranh. Với những đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, năm 1996, ông Khởi được Chủ tịch nước tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất.
Để những ký ức còn sống mãi
Rời câu chuyện của những chuyến xe ra trận, tôi tìm đến buôn Knia (xã Ia Pa) để gặp thương binh Nông Văn Phong, một người lính đã đi trọn những ngày tháng ác liệt nhất của chiến trường miền Nam.
Ông Phong đón tôi bằng nụ cười hiền, nhưng khi nhắc đến chiến tranh, ánh mắt ông chợt xa xăm.
Sinh năm 1952 tại Cao Bằng, ông lên đường nhập ngũ vào tháng 8/1971, khi tuổi đời vừa tròn đôi mươi. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào Tiểu đoàn 44, Sư đoàn 304B. Đầu năm 1972, ông cùng đơn vị hành quân vào Nam, một hành trình mà theo lời ông là “dài hơn cả sức tưởng tượng của tuổi trẻ”.
“Đi bộ suốt mấy tháng trời, băng rừng, lội suối, có khi đói lả vẫn phải bước tiếp. Chỉ sợ tụt lại phía sau là lạc đơn vị, mà lạc là coi như… không còn đường về”, ông kể.
Phần thưởng lớn nhất của thương binh Nông Văn Phong là được sống để kể lại, để những câu chuyện về Ngày Giải phóng miền Nam không bị lãng quên.
Khi đến chiến trường B2, ông được điều về Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 174, Sư đoàn 5, một đơn vị trực tiếp chiến đấu ở những điểm nóng nhất miền Tây Nam Bộ. Những ngày ấy, chiến tranh đã bước vào giai đoạn quyết liệt, mỗi trận đánh đều mang tính sống còn.
Cuối tháng 4/1975, đơn vị ông nhận nhiệm vụ chốt chặn tại khu vực Thủ Thừa (Long An cũ), án ngữ hướng tiến quân quan trọng về Sài Gòn. Ngay trong đêm 26/4, ông cùng đồng đội khẩn trương đào hầm, dựng công sự, chuẩn bị cho trận đánh mà ai cũng hiểu sẽ rất khốc liệt.
“Đất còn chưa kịp nén chặt, tay còn chưa hết run vì mệt thì địch đã kéo tới”, ông nhớ lại.
Sáng 27/4, khi quân địch tiến vào, đơn vị của ông bất ngờ nổ súng. Trận đánh diễn ra dữ dội. Trước hỏa lực quyết liệt, địch buộc phải tháo chạy, bỏ lại nhiều vũ khí. Nhưng niềm vui chưa kịp trọn vẹn thì lực lượng địch lập tức được tăng cường, chia nhiều hướng bao vây. Trong khi đó, Đại đội 6 chỉ còn vỏn vẹn 8 người. Lúc ấy, ai cũng hiểu là rất khó. Đạn dược ít, người ít, mà địch thì đông. Nhưng không ai lùi bước.
Giữa thế trận chênh lệch, ông cùng đồng đội động viên nhau bám trụ. Không còn khoảng cách giữa sống và chết, chỉ còn ý chí giữ chốt đến cùng.
"Chúng tôi nói với nhau: còn người thì còn trận địa. Có hy sinh cũng không để địch vượt qua. Những giờ phút sau đó là chuỗi thời gian căng như dây đàn. Tiếng súng, tiếng pháo xen lẫn tiếng đất đá vỡ tung. Có lúc tưởng như không thể trụ vững, nhưng rồi các đơn vị bạn kịp thời phối hợp, tạo thế phản công", ông Phong nhắc nhớ.
Từ thế phòng ngự, quân ta chuyển sang tiến công, từng bước đánh bật địch, mở đường tiến vào thị xã Tân An. Đúng trưa ngày 30/4/1975, Tân An được giải phóng.
Ông Phong dừng lại khá lâu khi nhắc đến thời khắc ấy. “Không còn tiếng súng. Chỉ còn tiếng người reo mừng. Tôi đứng đó mà thấy… nhẹ bẫng. Nhưng rồi lại nhớ đến những người đã không còn”, ông nói khẽ.
Trong suốt những năm tháng chiến đấu, ông nhiều lần đối diện với ranh giới sinh tử. Những vết thương chiến tranh để lại di chứng đến tận hôm nay, mỗi khi trái gió trở trời, toàn thân ông lại đau nhức. Nhưng điều khiến ông day dứt nhất, không phải là những vết thương trên cơ thể, mà là ký ức về đồng đội. “Có người hôm qua còn ngồi bên mình, hôm sau đã nằm lại. Chiến tranh là vậy…”, ông nói, ánh mắt trĩu nặng.
Với những đóng góp của mình, ông được trao Huân chương Chiến sĩ giải phóng. Nhưng với người lính ấy, phần thưởng lớn nhất vẫn là được sống để kể lại, để những câu chuyện về Ngày Giải phóng miền Nam không bị lãng quên.
Ngồi trước tôi, người cựu binh năm nào như ông Đường, ông Khởi hay ông Phong, không còn là những chàng trai tuổi đôi mươi trèo đèo, băng rừng vượt suối, nhưng trong ánh mắt của họ, tôi vẫn thấy rõ một thời lửa đạn, nơi con người đã đi qua chiến tranh bằng tất cả lòng dũng cảm và niềm tin vào ngày thống nhất.