Điều tra công phu, ghi nhận 35 loài chim mới
Ngày 20/10, Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị) cho biết, sau 3 tháng triển khai nhiệm vụ điều tra, đánh giá đa dạng khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Đakrông đã ghi nhận được 228 loài chim thuộc 55 họ, 17 bộ và đã bổ sung 35 loài chim mới so với các nghiên cứu trước đây.
Theo đó, việc thực hiện nhiệm vụ điều tra khu hệ chim tại Khu BTTN Đakrông được triển khai từ tháng 6 - 9/2026 bằng nhiều phương pháp với mục tiêu đánh giá thành phần loài chim, xác định các mối đe dọa chủ yếu và đề xuất giải pháp bảo tồn.
Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ, đã tổ chức khảo sát trên 10 tuyến điều tra, đi qua các dạng sinh cảnh và đai cao khác nhau, với tổng chiều dài tuyến đi bộ trong rừng trên 36,6 km. Đồng thời, 10 điểm bắt - thả chim được thiết lập, sử dụng tổng cộng 57 lưới mờ, với tổng thời gian 2.076 giờ đặt lưới.
Đại bàng đen, loài vừa ghi nhận ở Khu BTTN Đakrông, có tên trong Sách đỏ thế giới
Dẻ cùi vàng loài chim quý hiếm xuất hiện trong Khu BTTN Đakrông
Đối với phương pháp bẫy ảnh, nhiệm vụ đã bố trí 34 máy bẫy ảnh tại 34 điểm khảo sát. Tổng thời gian hoạt động của hệ thống bẫy ảnh đạt trên 60 ngày đêm/máy, tương ứng tổng thời gian khảo sát khoảng 2.040 ngày đêm/máy. Kết quả, thu thập được trên 4.000 ảnh, trong đó khoảng 61% số ảnh có dữ liệu.
Qua điều tra, Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị đã ghi nhận 228 loài chim, thuộc 55 họ và 17 bộ tại Khu BTTN Đakrông. Trong đó, 139 loài được ghi nhận trực tiếp, 89 loài được kế thừa từ các nghiên cứu trước đây và 97 loài có hình ảnh minh chứng.
So với kết quả nghiên cứu năm 2005, kết quả nghiên cứu lần này đã ghi nhận số lượng tăng thêm 35 loài thuộc18 họ và 1 bộ trong danh lục khu hệ chim của khu bảo tồn.
Cu xanh đuôi nhọn
Vành khuyên Nhật Bản
Đáng chú ý, trong số 35 loài mới bổ sung mới có 6 loài có giá trị bảo tồn thuộc 4 bộ và 5 họ. Trong đó, có 3 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới (IUCN), gồm: Đại bàng đen (Aquila clanga), Hồng hoàng (Buceros bicornis), Giẻ cùi vàng (Urocissa whiteheadi Ogilvie-Grant, 1899)…
Nhiều động vật quý hiếm cũng “lọt” vào máy bẫy ảnh
Thông tin từ Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị cho biết, ngoài ghi nhận các loài chim, dữ liệu thu thập từ hệ thống bẫy ảnh còn ghi nhận sự hiện diện của nhiều loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB, IIB theo Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, như: Thỏ vằn (Nesolagus timminsi), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), Cầy gấm (Prionodon pardicolor), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus), Cheo cheo (Tragulus kanchil)…
Loài chà vá chân nâu
Các loài động vật hoang dã được ghi nhận thông qua máy bẫy ảnh, trong ảnh là loài cheo cheo
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Tân Hiếu, Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị cho biết, việc ghi nhận các loài có giá trị bảo tồn góp phần cung cấp cơ sở khoa học để xác định đối tượng ưu tiên, định hướng nghiên cứu chuyên sâu và đề xuất các giải pháp quản lý, giám sát, bảo vệ sinh cảnh phù hợp. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Đakrông và khu vực Trường Sơn.
“Bên cạnh việc bổ sung dữ liệu về khu hệ chim, kết quả bẫy ảnh còn cung cấp bằng chứng thực địa về sự hiện diện của các loài động vật hoang dã có giá trị bảo tồn. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để đơn vị xây dựng và triển khai các giải pháp quản lý, giám sát đa dạng sinh học, bảo vệ sinh cảnh, kiểm soát các mối đe dọa, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học” - ông Hiếu nói.
Khu BTTN Đakrông có diện tích 37.009,74 ha, thuộc địa bàn 4 xã Đakrông, Ba Lòng, Tà Rụt và La Lay, do Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị quản lý. Đây là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học quan trọng của tỉnh Quảng Trị. Theo tổ chức BirdLife International, Khu BTTN Đakrông được biết đến là vùng “Chim đặc hữu Việt Nam”, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn các loài chim và đa dạng sinh học khu vực.