Đóng

Longform: Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu - Bài 5: Không để thiếu điện trong mọi tình huống

235,9 tỷ kWh là sản lượng điện toàn hệ thống trong 8 tháng đầu năm 2026, tăng 9,4% so với cùng kỳ và mới bằng 67,4% kế hoạch năm; 6 tháng đầu năm, sản lượng tăng 9,85% so với cùng kỳ, tháng 6 tăng 14,25%.

Đợt nắng nóng 22 tới 25/6 đẩy công suất cực đại toàn quốc lên 57.537 MW và sản lượng ngày lên 1.215,4 triệu kWh; con số 58.456 MW được Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu tại hội nghị ngày 28/7 như một kỷ lục mới của hệ thống.

Hệ thống điện Việt Nam đã đủ dư địa cho tăng trưởng hai con số?

Sản lượng điện 8 tháng năm 2026

Theo thông cáo “Tình hình hoạt động tháng 7 năm 2026” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đăng ngày 11/8/2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống tháng 7/2026 đạt 32,03 tỷ kWh; luỹ kế 7 tháng đạt 203,57 tỷ kWh. Đến hết tháng 8, luỹ kế toàn hệ thống đạt 235,9 tỷ kWh, tăng 9,4% so với cùng kỳ, bình quân khoảng 29,0 tỷ kWh mỗi tháng. Trước đó, thông cáo 6 tháng của EVN (ngày 7/7/2026) ghi sản lượng 6 tháng đạt 171,54 tỷ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ 2025; riêng tháng 6 đạt 32,6 tỷ kWh, tăng 14,25% so với tháng 6/2025. Quý I chỉ tăng 6,6% (76,86 tỷ kWh, thông cáo quý I của EVN); tháng 5 tăng 12% (32 tỷ kWh, thông cáo tháng 5). Nhịp tăng dốc dần từ quý I sang quý II, cùng lúc sản xuất công nghiệp tăng tốc.

Số liệu của Cục Thống kê xác nhận chiều ngược lại của bức tranh: chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng năm 2026 tăng 11,6% so với cùng kỳ, trong khi điện chỉ tăng 9,4%, tức khoảng cách giữa hai đường đã nới lên trên 2,2 điểm phần trăm so với mức khoảng 2,0 điểm ở mốc 7 tháng. Ở mốc 7 tháng, IIP tăng 11,4% so với cùng kỳ, mức cao nhất của 7 tháng trong nhiều năm; riêng ngành sản xuất và phân phối điện 6 tháng đầu năm tăng 9,6%, cao hơn hẳn mức 4,1% của cùng kỳ 2025 (Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng Bảy và 7 tháng năm 2026; Báo cáo quý II và 6 tháng năm 2026, Cục Thống kê). Ở mốc 6 tháng, điện tăng 9,85% trong khi công nghiệp tăng 10,8%. Hai cách nói tưởng ngược nhau thật ra cùng đúng và cần đọc liền: điện luôn tăng chậm hơn công nghiệp một chút nên nói là chạy sau, nhưng khoảng cách chỉ khoảng một điểm phần trăm nên nói là bám sát. Điều đáng chú ý là khoảng cách ấy đang giãn ra chứ không khép lại, từ khoảng 1,0 điểm ở mốc 6 tháng lên 2,0 điểm ở mốc 7 tháng rồi 2,2 điểm ở mốc 8 tháng.

Hai con số hiếm khi được nhắc cho thấy phần còn lại của bức tranh. Sản lượng nói trên là điện làm ra, còn điện bán được tới hộ tiêu thụ, tức điện thương phẩm, 6 tháng đạt khoảng 151,8 tỷ kWh, tăng 9,67%; phần chênh gần 20 tỷ kWh so với sản lượng toàn hệ thống là điện tự dùng và tổn thất trên lưới. Cũng trong 6 tháng, doanh thu bán điện của EVN đạt khoảng 344.700 tỷ đồng, tương đương hơn 13 tỷ USD (Viện Chiến lược Chính sách Công Thương, báo cáo tháng 6/2026).

Tại hội nghị rà soát cung ứng điện chiều 28/7/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu số ước 7 tháng là hơn 203,3 tỷ kWh, tăng khoảng 9,3% (Cổng Bộ Công Thương, 29/7/2026). Bài dùng số chốt của EVN ngày 11/8 làm số chính.

Cơ cấu huy động nguồn điện, mốc 7 tháng năm 2026

Cơ cấu huy động 7 tháng đầu năm 2026 theo thông cáo của EVN ngày 11/8/2026: nhiệt điện than 106,52 tỷ kWh, chiếm 52,3%; thuỷ điện 47,37 tỷ kWh, chiếm 23,3%; năng lượng tái tạo 25,96 tỷ kWh, chiếm 12,8% (điện mặt trời 16,89 tỷ kWh, điện gió 8,06 tỷ kWh); tua bin khí 16,21 tỷ kWh, chiếm 8%; điện nhập khẩu 7,21 tỷ kWh, chiếm 3,5%.

So với 6 tháng, tỷ trọng than đã hạ từ 54,5% xuống 52,3% và thuỷ điện tăng từ 21% lên 23,3% (thông cáo 6 tháng của EVN ngày 7/7/2026), phản ánh mùa lũ miền Bắc bắt đầu từ tháng 7. Đặt cạnh quý I (than 52,8%, thuỷ điện 20,9%, tái tạo 15,4%, thông cáo quý I của EVN) thì thấy tỷ trọng tái tạo giảm dần theo mùa khô, đúng lúc hệ thống cần công suất nhất. Thông cáo 6 tháng của EVN ghi rõ trong các tháng cao điểm, cơ quan điều độ NSMO đã phải huy động tổ máy chạy dầu Nhiệt điện Ô Môn và chuyển một số tổ máy tua bin khí sang đốt dầu DO để tăng công suất khả dụng.

Phía sau tỷ trọng than là bài toán nhiên liệu. Theo báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương dẫn số liệu Bộ Công Thương, trong 5 tháng đầu năm 2026 tổng lượng than tiêu thụ cho sản xuất điện trên cả nước đạt khoảng 35,53 triệu tấn, bằng 41,66% kế hoạch năm khoảng 85,28 triệu tấn. Riêng Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam, cũng theo báo cáo này, tiêu thụ khoảng 27,38 triệu tấn trong 6 tháng, trong đó 22,77 triệu tấn giao cho sản xuất điện. Hai con số đo hai phạm vi khác nhau, một toàn quốc và một của riêng một tập đoàn, phần chênh chính là chỗ than nhập khẩu phải bù vào.

Đợt nắng nóng 10 tới 16/8 lặp lại bài học ấy: theo NSMO, có thời điểm phụ tải tăng khoảng 2.700 MW chỉ trong 30 phút, cao điểm miền Bắc rơi vào 21h30 tới 22h30 khi điện mặt trời không còn phát; NSMO phải huy động tối đa nhiệt điện than, khởi động sớm các tổ máy tua bin khí LNG và yêu cầu các nhà máy chạy dầu sẵn sàng. Riêng điện khí LNG được huy động trên 3.000 MW trong cao điểm, phần công suất mà báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương đánh giá là giúp củng cố an ninh cung ứng. Hệ thống được giữ an toàn, nhưng cái giá là chi phí nhiên liệu và độ căng của điều độ.

Bản Triển vọng Năng lượng Đông Nam Á 2026 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho ba chỉ số đặt hệ thống điện Việt Nam vào đúng chỗ trong khu vực.

Thứ nhất, mức độ điện khí hoá thuộc nhóm cao nhất trong mười nước Đông Nam Á được báo cáo đưa vào so sánh. Theo bản Triển vọng Năng lượng Đông Nam Á 2026 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, điện chiếm khoảng 30% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng của Việt Nam, ngang Brunei. Trong mười nước Đông Nam Á mà báo cáo năm 2026 này đưa vào so sánh, đó là hai nước có tỷ trọng cao nhất. Chỉ số này đo một thứ khác với sản lượng: nó cho biết nền kinh tế đã chuyển bao nhiêu phần hoạt động sang chạy bằng điện thay vì đốt nhiên liệu trực tiếp. Tỷ trọng cao nghĩa là mỗi biến động của hệ thống điện truyền vào nền kinh tế mạnh hơn. Nó cũng nghĩa là dư địa cắt giảm phát thải bằng cách làm sạch nguồn điện lớn hơn.

Thứ hai, than vẫn chiếm gần một nửa. Năm 2024, than chiếm gần 50% sản lượng điện của Việt Nam. Đối chiếu khu vực: Indonesia khoảng 70%, Philippines gần hai phần ba, Malaysia khoảng 45%. Con số 52,3% của 8 tháng năm 2026 nêu ở đầu bài vì thế không phải mức bất thường mà là mức đã duy trì nhiều năm. Nó đặt Việt Nam ở khoảng giữa khu vực chứ không phải đầu hay cuối.

Thứ ba, Việt Nam nay có ghế trong tổ chức năng lượng lớn nhất. Tại Hội nghị Bộ trưởng năm 2026 tổ chức tại Paris, Việt Nam trở thành nước Liên kết của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, cùng nhóm với Indonesia, Singapore và Thái Lan. Đây là chi tiết thể chế đáng ghi, vì tư cách ấy mở đường tiếp cận dữ liệu, phương pháp dự báo và các chương trình hợp tác kỹ thuật mà trước đó phải đi qua trung gian.

Ba chỉ số này bổ sung cho nhau. Một nước điện khí hoá sâu, nguồn điện còn dựa gần nửa vào than, vừa bước vào bàn của tổ chức năng lượng quốc tế. Cả ba đều nói cùng một điều: phần việc nặng nhất của chuyển dịch năng lượng nằm ở phía trước chứ không phải phía sau.

Sức ép mà hệ thống điện Việt Nam đang chịu không phải là chuyện riêng của một nước. Theo bản Cập nhật giữa năm về điện 2026 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, nhu cầu điện toàn cầu năm 2026 được dự báo tăng 3,6%, nhanh hơn mức 3,0% của năm 2025 và tiếp tục lên 3,8% vào năm 2027. Bóc theo từng nền kinh tế, mức dự báo là tăng 5,5% ở Trung Quốc, tăng 7% ở Ấn Độ sau một năm 2025 chỉ tăng 1,6% do mùa mưa đến sớm, tăng khoảng 2% ở Hoa Kỳ và 2% ở Liên minh châu Âu. Cũng theo cơ quan này, phát thải từ phát điện của khu vực Đông Nam Á được dự báo tăng bình quân 6% mỗi năm trong hai năm 2026 và 2027, khi nhu cầu tăng mạnh chủ yếu vẫn được đáp ứng bằng nguồn hoá thạch.

Trước khi so phải đặt đúng đơn vị đo: chỉ tiêu của Việt Nam là điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống, còn số của Cơ quan Năng lượng Quốc tế tính theo tổng phát điện hoặc theo nhu cầu, hai khái niệm không trùng nhau, nên hai vế chỉ đặt cạnh để thấy hướng chứ không trừ nhau được. Với lưu ý ấy, mức tăng 9,4% sau tám tháng ở Việt Nam, so với 9,85% của sáu tháng đầu năm, vẫn cao hơn tất cả các nền kinh tế vừa nêu và cao hơn khoảng hai lần rưỡi mức dự báo chung của thế giới.

Đó là thước đo cụ thể nhất cho khối lượng công việc mà ngành điện đang gánh: giữ được nhịp cung ứng ở mức mà phần lớn thế giới không phải chạy tới. Đáng chú ý hơn là nhận định về cơ cấu: khi cầu tăng nhanh mà nguồn sạch chưa vào kịp, phần chênh sẽ do than và khí gánh.

Bản cập nhật của Cơ quan Năng lượng Quốc tế còn ghi một dữ kiện của bối cảnh chung: cuộc xung đột ở Trung Đông khiến thế giới tạm mất gần 20% nguồn cung khí hoá lỏng, đẩy giá khí ở cả châu Á và châu Âu lên mức cao nhất kể từ giai đoạn 2022. Với một hệ thống đang chuẩn bị đưa nguồn điện khí hoá lỏng vào vận hành, đó là biến số cần theo dõi cùng lúc với tiến độ xây lắp.

Giữa những con số cho thấy hệ thống điện còn đứng trên nguồn truyền thống, có một chỉ số đi ngược lại và cần được nêu đúng mức.

Theo dữ liệu của tổ chức nghiên cứu năng lượng Ember, năm 2025 Việt Nam sản xuất 45% sản lượng điện từ các nguồn phát thải các-bon thấp, cao hơn mức trung bình toàn cầu 43%. Nguồn các-bon thấp ở đây gồm thuỷ điện, điện gió, điện mặt trời, sinh khối và điện hạt nhân, tức là toàn bộ phần không đốt nhiên liệu hoá thạch.

Con số ấy không mâu thuẫn với cơ cấu 8 tháng năm 2026 đã nêu ở trên, nơi than chiếm 52,3%. Hai con số đo hai thứ khác nhau: một bên là tỷ trọng của cả năm 2025 tính theo nhóm nguồn các-bon thấp trong đó thuỷ điện chiếm phần lớn, một bên là cơ cấu 8 tháng năm 2026 tính riêng từng loại nguồn. Thuỷ điện 23,3% cộng tái tạo 12,8% của 8 tháng năm nay cho thấy nền các-bon thấp vẫn đang giữ được vị trí, dù tỷ trọng thay đổi theo mùa nước và theo nhu cầu phụ tải.

Điều đáng nói là vị trí tương đối. Trong khi nhiều nền kinh tế trong khu vực đang phải quay lại với nguồn nhiệt điện để bảo đảm đủ điện trước cú sốc giá khí, Việt Nam vẫn giữ được tỷ trọng các-bon thấp trên mức trung bình thế giới. Đây là một điểm cần nêu, nhưng nêu kèm giới hạn: phần lớn lợi thế ấy đến từ thuỷ điện, một nguồn phụ thuộc thời tiết và gần như đã khai thác hết dư địa. Muốn giữ được tỷ trọng ấy khi sản lượng cả hệ thống tiếp tục tăng hai con số thì phần tăng thêm phải đến từ điện gió, điện mặt trời và các nguồn mới, chứ không thể trông vào nước.

Bốn mốc kỷ lục phụ tải năm 2026 theo từng nguồn công bố

Trong năm 2026, hệ thống điện lập kỷ lục nhiều lần và mỗi cơ quan công bố theo mốc riêng. Thông cáo tháng 5 của EVN ghi công suất lớn nhất 5 tháng đầu năm đạt 58.100 MW, sản lượng ngày lớn nhất 1,21 tỷ kWh. Thông cáo 6 tháng của EVN ghi trong đợt nắng nóng 22 tới 25/6, sản lượng ngày cao nhất đạt 1.215,4 triệu kWh (ngày 25/6), công suất cực đại 57.537 MW (ngày 24/6). Tại hội nghị 28/7, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu công suất phụ tải cực đại đã đạt 58.456 MW và sản lượng ngày lớn nhất khoảng 1,22 tỷ kWh (Cổng Bộ Công Thương, 29/7/2026). Sang tuần 33 (10 tới 16/8), NSMO ghi nhận công suất cực đại toàn quốc 57.977 MW lúc 13h50 ngày 13/8, cao hơn 5,5% so với đỉnh năm 2025, sản lượng ngày 1,180 tỷ kWh (Báo Công Thương, 17/8/2026).

Điều không thay đổi giữa các nguồn: đỉnh phụ tải 2026 đã vượt đỉnh 2025 và miền Bắc là nơi căng nhất, với dự báo của NSMO đỉnh miền Bắc các tháng 7 và 8 ở mức 30.550 tới 31.550 MW, tăng khoảng 16,8% so với cùng kỳ 2025 (thông cáo 6 tháng của EVN).

Yêu cầu ấy được Chính phủ đặt thành mệnh lệnh. Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh “để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế 2 con số, tăng trưởng nguồn điện là yêu cầu bắt buộc, nhất là khi nhu cầu sử dụng điện cho phát triển khoa học, công nghệ, các trung tâm dữ liệu ngày càng lớn”. Chữ đáng chú ý là hai chữ bắt buộc: nguồn điện không còn là biến số được phép trễ.

Sản lượng 235,9 tỷ kWh trong 8 tháng là con số tuyệt đối. Chia cho dân số thì bức tranh khác hẳn.

Mức tiêu thụ điện bình quân đầu người của Việt Nam bằng khoảng 73% mức trung bình thế giới, bằng 87% mức của Thái Lan, bằng chưa tới 40% mức của Trung Quốc và bằng khoảng 23% mức của Hàn Quốc. Nghĩa là dư địa tăng còn rất lớn. Nhu cầu điện sẽ tiếp tục đi lên cùng với công nghiệp hoá cùng mức sống.

Con số ấy đặt cạnh mục tiêu 358,6 tỷ kWh cả năm cho một cách đọc khác về áp lực. Việc các tháng cuối năm phải tăng 11,7 tới 11,9% không phải là gắng sức nhất thời để chạy chỉ tiêu. Nó là nhịp bình thường của một nền kinh tế còn cách xa mức tiêu thụ điện của các nước công nghiệp đi trước. Nhịp ấy còn phải giữ nhiều năm nữa.

Có một cách kiểm lại yêu cầu ấy bằng chính số liệu của năm nay, đó là đo xem mỗi điểm phần trăm tăng của công nghiệp kéo theo bao nhiêu điểm phần trăm tăng của điện. Ở mốc 6 tháng, điện tăng 9,85% ứng với công nghiệp tăng 10,8%, tỷ số là 0,91. Ở mốc 8 tháng, điện tăng 9,4% ứng với công nghiệp tăng 11,6%, tỷ số còn 0,81. Cả hai đều dưới 1 và đang giảm, nghĩa là nền sản xuất năm nay làm ra thêm một đơn vị sản lượng bằng ít điện hơn trước. Đây là phép tính của bài trên hai cặp số đã dẫn ở trên, không phải hệ số co giãn chính thức do cơ quan nào công bố.

Đọc theo tỷ số ấy thì yêu cầu điện tăng 11,7 tới 11,9% cho các tháng cuối năm là một yêu cầu đặt cao hơn xu thế đang diễn ra. Nhưng cao hơn không có nghĩa là đặt sai, vì ba lẽ. Thứ nhất, tỷ số nói trên đo theo chỉ số sản xuất công nghiệp, còn mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu của cả nền kinh tế, trong đó dịch vụ và tiêu dùng dân cư cũng kéo phụ tải lên. Thứ hai, hệ thống điện không thể chạy sát mép: phải có công suất dự phòng cho ngày nắng nóng cực đoan, cho sự cố tổ máy và cho tiến độ nguồn mới bị chậm. Thứ ba, một tỷ số thấp trong một năm có thể là dấu hiệu tốt của hiệu quả năng lượng, cũng có thể là dấu hiệu cơ cấu sản xuất dịch chuyển sang nhóm ngành ít tiêu hao điện, hai khả năng ấy dẫn tới hai chính sách khác nhau và bài chưa đủ dữ liệu để tách bạch. Đây là chỗ đáng để cơ quan quản lý công bố hệ số co giãn theo chuỗi nhiều năm, vì nó là căn cứ để đặt chỉ tiêu điện hằng năm thay vì suy từ mục tiêu tăng trưởng.

Đây cũng là chỗ để tránh một cách đọc sai thường gặp. Sản lượng điện tăng hai con số không phải dấu hiệu lãng phí năng lượng, chừng nào mức bình quân đầu người còn dưới trung bình thế giới. Vấn đề của hiệu quả năng lượng nằm ở cường độ năng lượng trên một đơn vị GDP, là chỉ tiêu khác, chứ không nằm ở tốc độ tăng sản lượng.

Vì sao sản lượng điện phải chạy trước nhịp tăng trưởng chứ không phải chạy sau? Câu trả lời có gốc rễ lý luận từ rất lâu.

Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội VIII các Xô-viết toàn Nga, V.I.Lênin trình bày kế hoạch điện khí hoá nước Nga, tức kế hoạch GOELRO. Ông nói: “Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền xô-viết cộng với điện khí hoá toàn quốc, vì không có điện khí hoá thì không thể đẩy công nghiệp lên được.” Trong cùng báo cáo ấy, khi bàn về việc chuyển nền kinh tế đất nước lên cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại, ông khẳng định “cơ sở đó chỉ có thể là điện lực mà thôi”. Ông cũng nói thẳng rằng đây là nhiệm vụ lâu dài, ít nhất phải mất mười năm.

Bối cảnh năm 1920 khác hẳn hôm nay. Nước Nga khi ấy vừa ra khỏi chiến tranh, còn là một nước tiểu nông, sản lượng điện gần như bằng không. Việt Nam năm 2026 đã có hệ thống điện quốc gia sản xuất 235,9 tỷ kWh chỉ trong 8 tháng. Không thể đặt hai hoàn cảnh cạnh nhau như hai thứ giống nhau.

Nhưng mệnh đề gốc thì không cũ đi: điện là điều kiện vật chất của công nghiệp, chứ không phải là hệ quả của công nghiệp. Đọc lại ba con số Nghị quyết 01/NQ-CP giao cho ngành theo mệnh đề ấy thì thấy logic rất rõ. Chỉ tiêu điện không được đặt bằng mức tăng trưởng dự kiến của nền kinh tế mà phải đặt cao hơn, vì thiếu điện thì phần công nghiệp tăng thêm không có chỗ dựa vật chất để hiện ra. Đó cũng là lý do các tháng cuối năm phải tăng 11,7 tới 11,9%, cao hơn hẳn mức 9,4% của 8 tháng đã qua.

Điều thứ hai đáng lưu ý trong báo cáo năm 1920 là Lênin nhấn mạnh khung thời gian mười năm và việc phải thu hút hàng loạt nhân viên kỹ thuật. Nói theo ngôn ngữ hôm nay thì đó là hai thứ mà một quy hoạch điện phải có cùng lúc: chân trời dài hạn và đội ngũ thực thi. Khoảng vênh giữa 130 GW của Chiến lược với 183,3 tới 236,4 GW của Quy hoạch, sẽ bàn ở mục sau, chính là vấn đề của cái chân trời ấy.

Luận điểm 106 năm tuổi ở trên nói về vai trò của điện với một nền kinh tế đang công nghiệp hoá. Bản đồ hôm nay đã có số đo cụ thể cho chính luận điểm ấy.

Trong Southeast Asia Energy Outlook 2026, báo cáo do Tiến sĩ Fatih Birol, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế, giới thiệu, cơ quan này viết: “Điện ngày càng quan trọng hơn với tương lai năng lượng của Đông Nam Á, nhu cầu điện hiện đã tăng nhanh gấp đôi so với mức tăng của năng lượng nói chung.” Tổng nhu cầu điện của khu vực nay vượt 1.300 TWh, chiếm hơn 20% tiêu thụ năng lượng cuối cùng.

Động lực đến từ đúng chỗ mà bài này đang bàn. Báo cáo ghi: “Hoạt động chế tạo mở rộng đã đẩy nhu cầu than và điện của công nghiệp tăng mạnh, lần lượt gần 90% và 75% trong thập kỷ qua, trong khi nhu cầu khí tự nhiên tăng 45%.” Đặt cạnh chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 11,6% cùng tỷ trọng than 52,3% trong cơ cấu huy động nguồn, hai vế khớp nhau.

Riêng Việt Nam, báo cáo xếp vào nhóm dẫn đầu khu vực ở một chỉ số: “Điện khí hoá đang tăng trên toàn khu vực, với điện chiếm khoảng 30% tổng tiêu thụ cuối cùng ở Việt Nam và Brunei Darussalam, hai nước có tỷ trọng cao nhất Đông Nam Á.” Cùng báo cáo ấy ghi một mốc thể chế đáng chú ý: tại Hội nghị Bộ trưởng năm 2026 ở Paris, Việt Nam trở thành nước Liên kết của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, cùng Indonesia, Singapore và Thái Lan.

Ba dữ kiện ấy đặt bài toán 358,6 tỷ kWh cả năm vào đúng khung của nó. Đây không phải một mục tiêu sản lượng đơn lẻ, mà là hệ quả của việc một nền kinh tế đang điện khí hoá nhanh hơn phần lớn khu vực.

Trước khi đọc các kịch bản của nửa cuối năm, cần đặt lại cái thước. Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 giao ngành Công Thương ba chỉ tiêu về điện cho năm 2026: điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 350 tới 368,1 tỷ kWh, tương ứng mức tăng 8,5 tới 14,1%; tổng công suất nguồn điện đạt 88.165 MW tức khoảng 88,2 GW, tăng tối thiểu 6,6%; tỷ lệ dự phòng công suất nguồn đạt 21,8%.

Đối chiếu với số thật sau tám tháng: sản lượng 235,9 tỷ kWh bằng 64,1 tới 67,4% của dải giao cả năm. Nói cách khác, bốn tháng cuối năm phải làm ra khoảng một phần ba sản lượng còn lại, tức phải duy trì mức cung ứng bình quân cao hơn mức bình quân 8 tháng từ 0,3 tới 3,9 tỷ kWh mỗi tháng. Nghe qua thì như đang chậm, nhưng các tháng cuối năm luôn có phụ tải cao hơn, nên tỷ lệ ấy là đúng nhịp; con số dự báo cả năm 358,6 tỷ kWh mà NSMO đưa ra cũng nằm gọn trong dải giao. Về công suất nguồn, mức khoảng 87.600 MW mà bài dẫn đang tiệm cận đích 88.165 MW, phần còn lại phụ thuộc tiến độ Quảng Trạch I, nguồn điện khí hoá lỏng và hệ thống lưu trữ trong những tháng cuối. Riêng chỉ tiêu dự phòng công suất 21,8% thì tuyến bài này chưa tìm được số công bố cho mốc bảy tháng. Đó là một khoảng trống theo dõi cần nói thẳng chứ không nên bỏ qua.

Nghị quyết 01/NQ-CP còn giao Bộ Công Thương trình dự án Luật sửa đổi Luật Điện lực trong tháng 10/2026. Đây là phần thể chế đi kèm những con số trên: quy hoạch và sản lượng cần một khung pháp lý theo kịp. Bài 8 của tuyến này đi sâu vào tiến độ của nhóm nhiệm vụ xây dựng pháp luật ấy.

Bài toán nửa chặng còn lại

Theo tính toán cập nhật của NSMO được EVN dẫn trong thông cáo 6 tháng, sản lượng 6 tháng cuối năm 2026 có thể đạt 187,5 tỷ kWh, tăng 12,3% so với cùng kỳ 2025; cả năm dự kiến 358,6 tỷ kWh, tăng 11,1% so với 2025. Con số này gắn với mục tiêu tăng trưởng “hai con số” tại Nghị quyết 168/NQ-CP và 169/NQ-CP ngày 27/6/2026.

Tại hội nghị 28/7, Bộ trưởng đặt bài toán theo cách khác: muốn cả năm tăng trưởng 10% thì 6 tháng cuối năm kinh tế phải tăng bình quân trên 11%, kéo theo sản lượng điện các tháng cuối phải tăng khoảng 11,7 tới 11,9%. Cũng tại đây, số ước cả năm được nêu là tăng gần 9,8%, thấp hơn mức 11,1% EVN dẫn ngày 7/7. Bài trình cả hai, không chọn thay bạn đọc.

Điểm chung của cả hai kịch bản: nửa chặng còn lại khó hơn nửa chặng đã qua. NSMO cảnh báo thời tiết cuối năm còn nắng nóng diện rộng xen mưa bão, một số dự án nguồn và lưới có nguy cơ chậm, hệ thống vẫn phụ thuộc lớn vào than và thuỷ điện (hội nghị 28/7, Cổng Bộ Công Thương).

Nguồn mới đang tới

Nguồn điện mới của năm 2026 tập trung ở ba địa chỉ. Thứ nhất, Nhiệt điện Quảng Trạch I (Quảng Trị), 2 tổ máy, tổng công suất 1.403 MW, tổng mức đầu tư hơn 42.000 tỷ đồng (Báo Công Thương, 16/4/2026): tổ máy 1 hoà lưới ngày 12/4 và đốt than lần đầu ngày 6/5/2026, tiến độ tổng thể đạt 99,11%; tổ máy 2 đặt mục tiêu hoà đồng bộ tháng 8/2026 và phát điện thương mại trong năm (thông cáo EVN các tháng 5, 6 và 7/2026).

Thứ hai, Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II, công suất 1.612,8 MW, tổng mức đầu tư hơn 52.490 tỷ đồng, dự kiến cung cấp khoảng 10 tỷ kWh mỗi năm; hợp đồng EPC ký ngày 9/2/2026. Tới tháng 7, dự án đã hoàn thành khảo sát và dự kiến hoàn thiện hồ sơ thiết kế kỹ thuật trong quý IV/2026 (thông cáo EVN các tháng 2 và 7/2026). Dự án nằm trong lộ trình điện khí LNG mà Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu 22.524 MW tới năm 2030 (dẫn theo bài tường thuật hội thảo về điện khí LNG trên Báo Công Thương ngày 14/8/2026).

Thứ ba, pin lưu trữ (BESS). Ngày 2/8/2026, Tổng công ty Điện lực miền Bắc đóng điện hệ thống BESS đầu tiên, 5 MW/10 MWh tại Trạm 110kV Song Khê (Bắc Ninh); giai đoạn đầu là 305 MW/610 MWh tại 47 trạm 110kV của 8 tỉnh, thành phố phía Bắc, trong tổng quy mô 530 MW/1.060 MWh, mục tiêu đóng điện toàn bộ trong tháng 8/2026 (thông cáo EVN ngày 3/8/2026). Về lưới, 7 tháng đã khởi công 98 và đóng điện 100 công trình, gồm 5 công trình 500kV.

Đặt 1.403 MW, 1.612,8 MW và 305 MW BESS cạnh đỉnh phụ tải 57.537 tới 58.456 MW, đó là phần dự phòng cho một hai mùa khô, chưa phải câu trả lời cho giai đoạn tới 2030.

Hệ thống lưu trữ năng lượng 305 MW vừa đóng điện là lời giải cho chỗ hẹp lớn nhất của nguồn tái tạo, tức chỗ điện mặt trời và điện gió phát không theo giờ cần dùng. Nhưng lời giải ấy kéo theo một loại phụ thuộc mới. Đây là chỗ tuyến bài phải nói trước khi quy mô lưu trữ tăng lên theo Quy hoạch điện VIII.

The Palgrave Handbook of International Energy Economics, do Manfred Hafner và Giacomo Luciani chủ biên, Palgrave Macmillan xuất bản năm 2022, dành hẳn một chương cho kinh tế học lưu trữ điện bằng pin. Chương này do Michel Noussan viết. Ông đo mức tập trung của chuỗi cung nguyên liệu pin.

Bốn con số của năm 2018 trong chương ấy đáng để một nước đang mở rộng lưu trữ đọc kỹ.

Tác giả nhận xét rằng mức tập trung ở khâu chế biến nguyên liệu thô còn nghiêm trọng hơn mức tập trung ở khâu khai thác. Ông cũng cho rằng sự tập trung của ngành thu hẹp cơ hội thị trường, vì thiếu góc nhìn đa dạng thì các doanh nghiệp đang có mặt thường lập kế hoạch mở rộng nguồn cung một cách dè dặt.

Về nhu cầu, chương này dự báo trong giai đoạn 2018 tới 2028 nhu cầu cô-ban tăng khoảng ba lần, nhu cầu li-ti cùng than chì tăng 5,5 lần và nhu cầu ni-ken tăng chín lần. Tác giả cho rằng chỗ nghẽn nghiêm trọng nhất nằm ở ngắn hạn, do phải có quy hoạch đủ để mở rộng công nghiệp khai khoáng cùng chuỗi cung phía sau.

Ý nghĩa với Việt Nam rất cụ thể và không mâu thuẫn với chủ trương mở rộng lưu trữ. Một, mỗi MW pin lắp thêm là một phần công suất hệ thống phụ thuộc vào một chuỗi cung mà Việt Nam chưa có mặt ở khâu nào. Hai, vì thế bài toán lưu trữ không chỉ là bài toán vốn và công nghệ mà còn là bài toán đa dạng hoá nguồn mua, đúng loại bài toán mà kỳ 6 của tuyến này đang bàn với xăng dầu. Ba, các số trên là số của năm 2018, tức đã tám năm, nên trước khi đưa vào tính toán quy hoạch thì phải cập nhật bằng số liệu mới. Bài này nêu chúng như một cấu trúc rủi ro cần theo dõi chứ không phải như số liệu hiện hành.

Bài toán mà pin lưu trữ mở ra ở mục trên còn một lời giải thứ hai. Lời giải ấy nằm ở phía người dùng điện chứ không nằm ở phía nhà máy.

Năm 2020, Nhà xuất bản Springer phát hành cuốn China’s Energy Revolution in the Context of the Global Energy Transition, công trình do Shell International B.V. tại Hà Lan và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc đồng chủ biên, phát hành theo giấy phép mở Creative Commons Attribution 4.0. Chính các tác giả ghi rõ giới hạn của bản này ngay ở trang bản quyền: số liệu cùng phân tích được làm năm 2019 khi bản tiếng Trung ra đời, còn bản tiếng Anh năm 2020 không cập nhật thêm.

Trong nhóm khuyến nghị về hạ tầng năng lượng thông minh, nhóm nghiên cứu đặt riêng một mục mang tên “thiết lập các hệ thống cân bằng vi mô cho phép người dùng cuối tham gia thị trường năng lượng”. Diễn giải của họ rất cụ thể. Cần dựng thiết bị, hạ tầng cùng nền tảng để hộ gia đình, doanh nghiệp, khu công nghiệp và cộng đồng dân cư “tham gia thị trường năng lượng và cung cấp dịch vụ cân bằng cho lưới nhỏ hoặc lưới cộng đồng mà họ đấu nối vào”. Ba hình thức được kể tên: pin đặt sau công tơ; pin xe điện dùng làm kho tích trữ; điều chỉnh phụ tải phía cầu.

Ba hình thức ấy có một đặc điểm chung đáng chú ý với Việt Nam năm 2026. Chúng dựa vào thiết bị đã có sẵn trong nền kinh tế, không đòi một khoản đầu tư nguồn mới. Xe điện đang tăng nhanh trên đường, mỗi chiếc là một khối pin. Máy nén, lò và hệ thống làm mát trong hàng nghìn nhà máy đều có thể dịch giờ chạy. Con số 305 MW pin lưu trữ nêu ở mục trên là công suất đặt của một loại tài sản mới phải bỏ tiền dựng. Phần linh hoạt nằm trong tài sản đã có thì chưa được đo, mà chưa đo được thì chưa huy động được.

Đây là khuyến nghị nhóm nghiên cứu đưa ra cho Trung Quốc, một hệ thống điện khác hẳn Việt Nam cả về quy mô lẫn cơ cấu nguồn. Điều dùng lại được không phải con số mà là thứ tự đặt vấn đề. Trước khi hỏi cần dựng thêm bao nhiêu megawatt nguồn linh hoạt, nên kiểm đếm trước xem trong hệ thống hiện có bao nhiêu megawatt linh hoạt nằm ở phía cầu mà chưa được gọi tên. Nhóm nghiên cứu không đưa ra số liệu nào về phía cầu của Việt Nam. Đây là một phép đếm phải làm trong nước, không phải một kết luận mượn được.

Mục trên đã dẫn luận điểm của V.I.Lênin năm 1920 rằng cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại “chỉ có thể là điện lực mà thôi”. Có thể hỏi ngược lại: đó là mệnh đề của một thời đã xa, hay còn được kinh tế học phát triển đương đại thừa nhận.

Câu trả lời nằm ở một khung lý thuyết ra đời chín mươi mốt năm sau. Justin Yifu Lin, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới nhiệm kỳ 2008 tới 2012, công bố khung Kinh tế học cấu trúc mới trên The World Bank Research Observer tháng 8/2011. Trong phần khuyến nghị chính sách tài khoá, ông viết rằng hạ tầng vật chất nói chung là ràng buộc trói buộc tăng trưởng ở các nước đang phát triển. Ông xếp điện đứng đầu danh sách hạ tầng cứng cần có, rồi kết luận rằng chính phủ phải giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp hạ tầng thiết yếu để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Hai luận điểm cách nhau chín mươi mốt năm, xuất phát từ hai hệ tư tưởng kinh tế khác nhau, gặp nhau ở một điểm: điện là điều kiện có trước của tăng trưởng công nghiệp, không phải là kết quả đi sau. Đó chính là logic của việc Nghị quyết 01/NQ-CP đặt chỉ tiêu sản lượng điện tăng 8,5 tới 14,1% trong năm 2026, cao hơn mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.

Chỗ hai bên khác nhau cũng cần nói. Lênin bàn về một nền kinh tế tiểu nông vừa ra khỏi chiến tranh, đặt điện khí hoá thành nhiệm vụ chính trị của cả nước. Lin bàn về ràng buộc tăng trưởng ở nhóm nước thu nhập thấp đầu thập niên 2010, nhấn mạnh nhà nước tạo thuận lợi chứ không thay thị trường. Việt Nam năm 2026 không ở trong cả hai hoàn cảnh ấy. Cái dùng lại được là mệnh đề chung về thứ tự, còn cách làm thì phải đọc từ Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cùng các văn bản hiện hành.

Có một chi tiết trong Quy hoạch điện VIII ít được nhắc mà lại quyết định cách hiểu mọi con số công suất phía trên.

Trong báo cáo chuyên đề về ngành điện Việt Nam, Cơ quan Năng lượng Quốc tế nêu rằng Quy hoạch điện VIII được dựng trên giả định tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân khoảng 7% mỗi năm cho cả giai đoạn 2021 tới 2050. Đây là nền tính toán của toàn bộ nhu cầu điện trong quy hoạch.

Đặt con số ấy cạnh mục tiêu quốc gia thì hiện ra một khoảng vênh cần nói rõ. Mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 tới 2030 là hai con số, trong khi quy hoạch điện lại neo vào 7%. Nếu nền kinh tế chạy nhanh hơn giả định của quy hoạch, nhu cầu điện thực tế sẽ vượt kịch bản. Khi ấy khoảng chênh công suất bàn ở mục trên không còn là chuyện của riêng cách ghi số liệu nữa.

Cùng báo cáo ấy cho một thước đo lịch sử đáng để đối chiếu với con số 235,9 tỷ kWh của 8 tháng. Nhu cầu điện của Việt Nam đã tăng tám lần trong hai mươi năm, từ khoảng 30 TWh năm 2002 lên trên 240 TWh năm 2022. Tổng sản lượng điện tăng gần tám lần, từ khoảng 35 TWh lên 270 TWh trong cùng kỳ. Phần lớn mức tăng ấy được đáp ứng bằng nhiệt điện than, vốn tăng từ 5 TWh chiếm 14% nguồn cung năm 2002 lên 111 TWh chiếm 41% năm 2022. Riêng công nghiệp, chủ yếu là chế biến chế tạo, chiếm trên một nửa nhu cầu điện hiện nay.

Ba mốc chính sách mà báo cáo ghi nhận cũng là ba mốc ràng buộc cách xây nguồn từ nay về sau. Công suất nhiệt điện than theo Quy hoạch điện VIII đạt đỉnh khoảng 30 GW vào năm 2030, giảm mạnh so với mức 55 GW của quy hoạch trước. Sau năm 2030, nhà máy than phải đóng khi đủ 40 năm tuổi trừ khi chuyển sang đốt amoniac hoặc sinh khối. Cam kết net zero năm 2050 công bố tại COP26 đi kèm cam kết quốc tế chuyển khỏi điện than không giảm phát thải vào năm 2040.

Đọc ba mốc ấy cùng cơ cấu 8 tháng năm nay, nơi than vẫn chiếm 52,3%, thì thấy quãng đường phải đi còn rất dài. Đó là lý do vì sao phần công suất tăng thêm buộc phải đến từ nguồn khác, chứ không phải lựa chọn ưu tiên.

Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII (Quyết định 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025) đặt mục tiêu tới năm 2030: điện thương phẩm 500,4 tới 557,8 tỷ kWh; điện sản xuất và nhập khẩu 560,4 tới 624,6 tỷ kWh; công suất cực đại 89.655 tới 99.934 MW; tổng công suất nguồn 183.291 tới 236.363 MW. Nền xuất phát cuối 2025 là khoảng 87.600 MW công suất đặt.

Cuộc họp ngày 26/5/2026 do Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chủ trì yêu cầu Bộ Công Thương rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII theo hướng loại các dự án không thể hoàn thành giai đoạn 2026 tới 2030, bổ sung nguồn thay thế khả thi, trước hết là nguồn điện nền; kiên quyết xử lý chủ đầu tư chậm tiến độ.

Cam kết của Bộ Công Thương

Ngày 22/4/2026, làm việc với Bộ Công Thương, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu ngành công thương chịu trách nhiệm không để thiếu điện, xăng dầu trong mọi tình huống và khẩn trương rà soát, bổ sung Quy hoạch điện VIII. Cụm từ ấy cũng là mục tiêu EVN tự đặt trong các thông cáo tháng 5, 6 và 7; bài viết lấy nó làm thước đo.

Trước đó, ngày 9/2/2026, tại lễ ký hợp đồng EPC LNG Quảng Trạch II, đồng chí Lê Mạnh Hùng, khi đó là Quyền Bộ trưởng, yêu cầu EVN và liên danh nhà thầu kiểm soát chặt chi phí, không để chậm tiến độ và đội vốn, đồng thời cam kết Bộ “tiếp tục đồng hành, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, quy hoạch”.

Ngày 26/5/2026, báo cáo tại cuộc họp do Phó Thủ tướng Thường trực chủ trì, Bộ trưởng nêu quan niệm về an ninh năng lượng: không chỉ đủ nguồn cung mà còn phải vận hành an toàn, liên tục trong tình huống cực đoan, với giá phù hợp khả năng chi trả của người dân và doanh nghiệp. Ngày 22/6, Bộ trưởng làm việc với EVN về bảo đảm cung ứng điện. Ngày 10/7, tại Hội nghị Ban Chỉ đạo của Bộ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, an ninh năng lượng được xếp là bài toán lớn thứ nhất trong ba bài toán lớn của ngành, đi cùng yêu cầu chuyển từ “quản lý” sang “quản trị”

Cách làm ấy để lại dấu vết đo được. Tại hội nghị ngày 28/7/2026, Bộ trưởng yêu cầu lập danh mục quản trị rủi ro theo từng nhóm kèm phân công trách nhiệm, xây dựng bộ chỉ số quản trị cho ngành điện, đồng thời yêu cầu kịch bản cung ứng điện năm 2027 phải hoàn thành ngay trong tháng 8/2026, tức chuẩn bị trước một năm. Ở đây phải tránh quy kết quá tay: một mùa khô đi qua mà hệ thống không phải cắt điện là kết quả của nhiều biến số cùng lúc, trong đó thuỷ văn, diễn biến phụ tải và thời tiết nằm ngoài tầm điều hành của bất kỳ cơ quan nào. Điều thuộc về điều hành, vì thế đo được, là việc các quyết định có mốc thời gian đi trước tình huống bao xa.

Hội nghị ngày 28/7/2026 là nơi cách tiếp cận “quản trị” ấy được cụ thể hoá cho ngành điện:

Bộ trưởng ghi nhận ngành điện đã không để thiếu điện suốt mùa khô 2026 giữa lúc giá than, dầu, khí đều tăng, đồng thời lưu ý các tháng cuối năm còn nhiều áp lực. Chuỗi chỉ đạo từ tháng 2 tới tháng 7 cho thấy một đường đi nhất quán: từ cam kết “đủ điện” sang bộ máy quản trị rủi ro có danh mục, có đầu mối, có thời hạn.

Phần trên của bài này bàn về việc dựng thêm nguồn. Đi kèm nó là một câu hỏi mà tài liệu quy hoạch ít khi đặt thành mục riêng: dựng tới mức nào thì vừa sức.

Phan Huy Chú, nhà bác học đầu thế kỷ XIX, dành trọn quyển XXIX của Lịch triều hiến chương loại chí cho Quốc dụng chí, tức phần bàn về của cải cùng chi dùng của nhà nước. Mở đầu quyển ấy, ông xếp việc quốc dụng thành một chuỗi liền mạch. Tiền tệ phải lưu hành không ứng trệ. Ruộng đất phải quân bình vì “nếu ranh giới không đúng thì lương thực không có định số”. Thuế thổ sản phải rõ ràng. Với người buôn bán đi lại thì có thuế bến đò, thuế quan, thuế chợ, “mà việc tuần xét không thể bỏ được”. Rồi ông chốt bằng một nguyên tắc ngắn: “Lượng tính số thu vào để định số chi ra, không thể không có mức độ, việc chi dùng cần phải có chừng”. Ông gọi đó là “cái đạo đặt phép tắc lấy của dân, cái thước quy định chi dùng tiết độ”, rồi nhận xét rằng các đời vua đặt chế độ chi dùng của nước đều không vượt khỏi điều ấy.

Đặt cái thước ấy cạnh bài toán nguồn điện thì nó thành một câu hỏi cụ thể. Đó là câu hỏi mà mục về khoảng chênh 130 GW với 183,3 tới 236,4 GW ở trên đã chạm tới mà chưa gọi tên. Quy mô nguồn cần dựng không phải một đại lượng độc lập. Nó bị ràng bởi số tiền nền kinh tế có thể trả, mà số tiền ấy cuối cùng đi qua giá điện tới từng hộ dùng điện cùng từng nhà máy. Lượng thu định chi, đặt vào ngôn ngữ hôm nay, là đòi hỏi rằng mỗi phương án công suất phải đi kèm một phương án giá và một phương án vốn, chứ không đứng riêng như một con số kỹ thuật.

Giữa hai bối cảnh có một khoảng cách phải kể ra. Phan Huy Chú viết về phép chi dùng của một nhà nước quân chủ, nơi triều đình vừa đặt thuế vừa quyết khoản chi. Bài toán giá điện, vốn đầu tư cùng sức trả của nền kinh tế hôm nay vận hành trong một cơ chế khác hẳn. Thứ mượn lại được ở đây là một nguyên tắc kỷ luật ngân sách, không phải một luận cứ về quy hoạch điện.

Vế thứ hai của bài toán nằm ở phía tiêu dùng. Ở đây có một câu đáng đọc lại. Nói chuyện với công nhân Nhà máy Diêm Thống Nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bốn việc cạnh nhau cho những người vừa trở thành người làm chủ nhà máy: “phải ra sức làm cho nhà máy phát triển, thực hiện tăng gia sản xuất và tiết kiệm, chống lãng phí, triệt để tôn trọng kỷ luật lao động”. Điều đáng chú ý là trật tự. Tiết kiệm không được xếp sau tăng gia như một việc phụ, mà đứng ngay cạnh, trong cùng một mệnh đề.

Với hệ thống điện năm 2026, trật tự ấy có sức nặng thực tế. Sản lượng 235,9 tỷ kWh trong 8 tháng là vế tăng gia, đo được, công bố hằng tháng. Vế tiết kiệm thì chưa có một bộ chỉ số nào được công bố với cùng nhịp và cùng độ chi tiết như thế. Mục về phần linh hoạt phía cầu ở trên đã chỉ ra chỗ trống ấy từ một hướng khác. Hai hướng gặp nhau ở cùng một kết luận: mỗi kilowatt giờ không phải sinh ra vẫn rẻ hơn mỗi kilowatt giờ phải dựng nguồn mới để sinh ra, nhưng chỉ khi nào phần không sinh ra ấy được đo thì nó mới vào được bảng cân đối.

Cần phân biệt vị trí của hai trích dẫn vừa dùng. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc nền tảng tư tưởng của công tác xây dựng kinh tế, còn Quốc dụng chí là tư liệu lịch sử được dẫn để đối chiếu. Hai loại ấy không đặt ngang hàng.

Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW mà Bộ Công Thương gửi Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trong tháng 8/2026 cập nhật một loạt mốc mới hơn mọi con số đã dẫn ở trên.

Về công suất, tính đến ngày 15/7/2026 tổng công suất đặt của hệ thống là 93.435 MW, trong đó đã tính 8.407 MW điện mặt trời áp mái. Nguồn năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời cùng sinh khối đạt khoảng 24.389 MW, chiếm 26,1% tổng công suất đặt. Hai con số này không trừ thẳng cho nhau được. Mốc 93.435 MW đã tính cả điện mặt trời áp mái, còn mốc 87.655 MW cuối năm 2025 dẫn ở phần trên lấy từ bảng của Dự thảo Chiến lược mà bài chưa xác minh được có tính phần áp mái hay không. Phần chênh 5.780 MW vì thế chỉ đọc được là hướng đi lên, không đọc được là lượng nguồn mới dựng thêm.

Về sản lượng, tính đến ngày 20/7/2026 điện thương phẩm đạt 192,1 tỷ kWh, tăng 9,5% so với cùng kỳ. Con số này đo phần điện bán tới hộ tiêu thụ, khác với sản lượng toàn hệ thống 235,9 tỷ kWh của 8 tháng, nên hai vế không trừ nhau được.

Về cơ cấu, báo cáo cho hai tỷ lệ mà mẫu số khác nhau, nên phải đọc tách. Một là tỷ lệ trong sản lượng điện: năm 2025 các nguồn tái tạo phát 44 tỷ kWh, chiếm khoảng 13,5% tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống. Hai là tỷ lệ trong tổng cung năng lượng sơ cấp, tức mẫu số gồm cả than, dầu và khí dùng ngoài ngành điện: năm 2026 tỷ lệ ấy ước đạt khoảng 18,5%.

Về thị trường, hệ thống hiện có 479 nhà máy điện đang vận hành, chưa kể thuỷ điện nhỏ và điện mặt trời mái nhà. Trong số ấy 126 nhà máy trực tiếp tham gia thị trường điện với 37.213 MW, bằng 39,8% tổng công suất đặt. Nói cách khác, sáu phần mười công suất của hệ thống vẫn nằm ngoài thị trường giao dịch trực tiếp.

Một dữ kiện của chính báo cáo đáng ghi lại đầy đủ vì nó là phần chưa đạt. Nghị quyết số 70 nhấn mạnh phát triển lưới điện thông minh, còn Nghị quyết số 328/NQ-CP giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam xây dựng Đề án phát triển Lưới điện thông minh giai đoạn 2026 tới 2030, tầm nhìn 2045. Bộ Công Thương đã bốn lần có văn bản đôn đốc, gồm Công văn 9281/BCT-ĐL ngày 25/11/2025, Công văn 929/BCT-ĐL ngày 11/02/2026, Công văn 2426/BCT-ĐL ngày 08/4/2026 và Công văn 5681/BCT-ĐL ngày 23/7/2026. Báo cáo cũng nêu một nguyên nhân thuộc về thể chế: Luật Điện lực năm 2024 hiện chưa có quy định làm cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai lưới điện thông minh.

Con số 235,9 tỷ kWh và lời hứa không để thiếu điện trong mọi tình huống có nền chỉ đạo ở tầm cao hơn các quyết định điều hành. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu cụ thể cho năm 2030: tổng công suất các nguồn điện khoảng 183 tới 236 GW, tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 150 tới 170 triệu tấn dầu quy đổi, tỉ lệ tiết kiệm năng lượng khoảng 8 tới 10% so với kịch bản phát triển bình thường.

Dải công suất 183 tới 236 GW ấy đúng bằng dải mà bài này đã đối chiếu với Quy hoạch điện VIII ở mục dưới, nên hai văn bản nói cùng một con số. Về cơ cấu nguồn, Nghị quyết yêu cầu “phát triển điện hạt nhân, điện khí; có lộ trình giảm tỉ trọng điện than một cách hợp lý”. Đặt cạnh tỷ trọng than 52,3% của tám tháng đầu năm, đó là phần việc dài nhất của hệ thống.

Gần một năm sau, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV xếp năng lượng vào nhóm hạ tầng chiến lược phải ưu tiên, cùng với giao thông tốc độ cao, cảng biển và cảng hàng không, đồng thời yêu cầu tích hợp hạ tầng vật lý với hạ tầng số trong chính lĩnh vực năng lượng. Nghị quyết cũng đặt an ninh năng lượng cạnh an ninh nguồn nước và an ninh lương thực trong cùng một nhóm nhiệm vụ.

Vế tích hợp hạ tầng số đáng chú ý với ngành điện. Bài này đã nêu hai con số cần nói rõ là công suất và sản lượng; muốn điều hành theo thời gian thực thì hệ thống đo đếm cùng dự báo phụ tải phải là một hạ tầng số thật, chứ không phải bảng tổng hợp cuối tháng.

Hệ thống điện Việt Nam do doanh nghiệp nhà nước vận hành phần lớn, nên còn một văn bản nữa nói trúng chỗ này. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước xác định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế”.

Điện là một trong các cân đối lớn ấy. Phần đánh giá của Nghị quyết nói thẳng rằng doanh nghiệp nhà nước, lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động còn có chỗ “chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế quốc dân”. Đặt cạnh bài toán 183 tới 236 GW mà Nghị quyết 70 giao cho năm 2030, câu hỏi thực tế là năng lực huy động vốn và tốc độ triển khai dự án nguồn của chính các doanh nghiệp ấy.

Đại Bàng - Lâm Vỹ Sơn - Ngọc Lan