51 năm đã trôi qua kể từ thời khắc lịch sử ngày 30/4/1975 nhưng với Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt - người lính lái xe tăng 380 (Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2) trực tiếp tiến vào Dinh Độc Lập, mọi ký ức như vừa mới hôm qua. Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Công Thương, ông chậm rãi hồi tưởng về ký ức ngày toàn thắng, nơi niềm vui không chỉ là khoảnh khắc vỡ òa khi đất nước hoàn toàn thống nhất, mà còn là những cảm xúc lắng sâu, đan xen giữa tự hào và mất mát. Sau cánh cổng Dinh Độc Lập ngày ấy là hình ảnh của những người lính đã ngã xuống chỉ vài giờ trước giờ toàn thắng, là mùi máu, mùi dầu và cả dấu tích khốc liệt của chiến tranh vẫn còn hiện hữu ngay trước mắt.
Giọng kể của ông trầm lại khi nhắc đến đồng đội, những người đã không kịp chứng kiến giây phút hòa bình. Với ông, chiến thắng không chỉ là một dấu mốc lịch sử của dân tộc, mà còn là ký ức thiêng liêng, nhắc nhớ về giá trị của hòa bình được đánh đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ. Từ những trải nghiệm đó, người lính năm xưa vẫn luôn đau đáu gửi gắm thông điệp tới thế hệ hôm nay về trách nhiệm gìn giữ, trân trọng và phát huy giá trị của hòa bình trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
- Trong thời khắc ngày 30/4/1975, khi xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập, ông nhớ nhất điều gì, đặc biệt là khi niềm vui chiến thắng xen lẫn với những mất mát của đồng đội?
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt: Ngày 30/4, được có mặt tại Dinh Độc Lập, cảm giác đầu tiên là vỡ òa, vừa hạnh phúc vừa tự hào. Hạnh phúc bởi từ thời điểm ấy, tiếng súng đã chấm dứt, chiến tranh kết thúc, hòa bình được lập lại và bản thân mình vẫn còn sống. Đó là một cảm xúc có thể gọi là hạnh phúc vô biên.
Đồng thời, chúng tôi cũng tự hào vì được góp mặt trong những người làm nên chiến thắng ấy. Tuy nhiên, ngay sau khi bình tĩnh lại, cảm xúc trở nên rất phức tạp, nhiều chiều. Trên con đường đi đến đích cuối cùng, chúng tôi đã chứng kiến rất nhiều sự hy sinh của đồng đội.
Ngay chính chiếc xe 380 của tôi, chỉ hai ngày trước, ngày 28/4, trong trận đánh tại căn cứ địch, đã bị trúng đạn. Một chiến sĩ hy sinh là pháo thủ số 2 Nguyễn Kim Duyệt và một chiến sĩ bị thương phải đi viện là trưởng xe Nguyễn Đình Luông. Vì vậy, khi tiến vào Dinh, xe tôi chỉ còn hai người là tôi và pháo thủ Trương Đức Thọ.
Khi vào đến nơi, tôi cũng không được vào bên trong Dinh. Trong khi nhiều anh em hào hứng chạy vào tham quan, chứng kiến việc bắt giữ Dương Văn Minh, ngồi vào ghế Tổng thống. Các lái xe tăng như chúng tôi luôn phải ở lại cạnh xe. Đó là quy định: lái xe không được rời xe, nhằm sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, phòng khi địch phản kích. Ai sẽ điều khiển xe nếu có tình huống xảy ra? Chính là lái xe. Vì vậy, suốt dọc đường hành quân cũng như khi vào Dinh, chúng tôi luôn quanh quẩn bên xe.
Riêng cá nhân tôi hôm đó còn có một kỷ niệm không mấy vui. Sau nhiều ngày chiến đấu liên tục, quần áo của tôi rách nát, đặc biệt là chiếc quần rách từ đùi xuống gấu. Quần áo lính xe tăng thì vốn dĩ đã bẩn, lại thấm đầy dầu mỡ. Người ta vẫn nói đùa rằng lính tăng đi ba cây số vẫn còn mùi dầu. Xe tăng thời đó kỹ thuật chưa cao như bây giờ, dầu mỡ thường thấm ra ngoài. Thêm vào đó, chúng tôi chiến đấu từ rừng cao su miền Đông, trong mùa khô, đất đỏ bazan bụi mù mịt, bám đầy người và quần áo, ba lô quân tư trang để ngoài xe đã bị đạn pháo bay mất, không có gì để thay.
Khi tôi đỗ xe gần bồn nước giữa sân Dinh, định ra rửa mặt, nhìn xuống mặt nước thấy mình trong tình trạng như vậy, thực sự rất ái ngại. Xung quanh lúc đó đông người, từ dân chúng, thanh niên, đến phóng viên. Tôi cảm thấy xấu hổ, nên lại quay về xe, chỉ thò đầu ra quan sát.
Chính lúc ấy, tâm trí tôi lắng lại, tôi càng cảm nhận sâu sắc nỗi tiếc thương đồng đội. Hai ngày trước, pháo thủ số hai xe tôi đã hy sinh. Trước thời điểm tôi có mặt tại Dinh khoảng hai tiếng, tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ của chúng tôi cũng hy sinh ngay cửa ngõ Sài Gòn, chỉ trước giờ toàn thắng hơn một giờ đồng hồ. Khi tôi đã ngồi trong Dinh, suy ngẫm về mọi việc, thì anh vừa ngã xuống.
Mùi máu trong xe vẫn còn ám lại, không gian chiến đấu vẫn còn nguyên sự khốc liệt. Từ ngày 28 đến hôm đó, chỉ mới vài chục tiếng, chúng tôi chưa kịp lau rửa gì. Nghĩ đến đồng đội, tôi càng thấm thía rằng biết bao người đã ngã xuống để mình có mặt tại nơi được coi là đích cuối cùng của cuộc chiến.
- Nhìn lại thời khắc 30/4/1975 sau 51 năm, ông có suy nghĩ gì về ý nghĩa của khoảnh khắc lịch sử ấy đối với cuộc đời mình và với đất nước?
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt:
Cuộc chiến tranh trên đất nước ta đã kéo dài hàng mấy chục năm, vô cùng khốc liệt, đã kết thúc vào ngày 30/4/1975. Đất nước giành được độc lập, thống nhất và bắt đầu bước vào thời kỳ hòa bình. Dù trên thực tế vẫn còn những khó khăn sau đó, nhưng ý nghĩa của ngày 30/4 là rất lớn. Vì vậy, việc kỷ niệm là cần thiết, có thể thay đổi một chút cách gọi, coi đó là ngày thống nhất đất nước - một dấu mốc lịch sử trọng đại.
Đối với cá nhân tôi, đây cũng là một ngày rất ý nghĩa. Bởi đó là thời điểm tôi biết mình vẫn còn sống sau chiến tranh và từ đó có cơ hội thực hiện những ước mơ trong cuộc đời.
- Sau 51 năm đất nước thống nhất, từ góc nhìn của một người trực tiếp đi qua chiến tranh, ông cảm nhận như thế nào về những đổi thay của đất nước và cuộc sống người dân trong thời bình hôm nay?
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt: Những người từng trải qua chiến tranh, cũng như nhiều người dân Việt Nam ở thế hệ chúng tôi, đều có thể cảm nhận rõ ràng những đổi thay to lớn của đất nước sau 51 năm kể từ ngày 30/4/1975. Đất nước đã phát triển theo hướng văn minh, tiến bộ và ngày càng giàu đẹp hơn.
Đời sống của nhân dân cũng được cải thiện rõ rệt, kinh tế phát triển, mức sống nâng cao. Nhìn chung, sự phát triển của đất nước là rất đáng ghi nhận.
- Từ trải nghiệm chiến tranh, ông nhìn nhận như thế nào về giá trị của hòa bình trong đời sống hôm nay?
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt: Những người từng trải qua chiến tranh, chứng kiến bom đạn, mất mát và hậu quả của chiến tranh, đều nhận thức rất rõ giá trị của hòa bình. Theo tôi, hòa bình là vô giá, bởi nó được đánh đổi bằng máu xương của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ trong suốt nhiều năm chiến tranh.
Giá trị ấy vô cùng to lớn, không thể đo đếm. Càng theo thời gian, điều đó càng trở nên rõ ràng. Không có hòa bình thì không thể xây dựng và phát triển đất nước. Hòa bình là điều kiện cần cho phát triển.
Chúng ta có thể nhìn vào những nơi đang xảy ra xung đột như Ukraine hay Iran, khi bom đạn còn diễn ra, không có nhà đầu tư nào dám bỏ vốn, người dân chỉ lo tồn tại chứ không thể nghĩ đến làm giàu hay phát triển kinh tế. Vì vậy, hòa bình cần được gìn giữ và bảo vệ như nền tảng cho sự phát triển bền vững.
- Nhân dịp kỷ niệm 30/4, ông muốn gửi gắm thông điệp gì tới thế hệ trẻ trong việc gìn giữ và phát huy giá trị của hòa bình?
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt: Các bạn trẻ ngày nay rất may mắn khi được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất và đang phát triển. Đó là một hạnh phúc vô cùng to lớn.
Tuy nhiên, các bạn không được quên lịch sử, không được quên quá khứ hào hùng của dân tộc. Để có được hòa bình hôm nay, đã có sự hy sinh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ.
Bên cạnh quyền hưởng thụ thành quả, các bạn trẻ cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ Tổ quốc, đồng thời nỗ lực học tập, cống hiến để xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước.
- Với tư cách là một người lính từng tham gia chiến đấu, ông cho rằng những giá trị của người lính trong chiến tranh cần được phát huy như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt: Những người trực tiếp trải qua chiến tranh hiện nay đa phần đã lớn tuổi, nhiều người đã ngoài 70, 80 tuổi. Vì vậy, khả năng đóng góp trực tiếp về mặt vật chất là hạn chế.
Tuy nhiên, về giá trị tinh thần, vai trò giáo dục thế hệ trẻ vẫn rất quan trọng. Họ là những nhân chứng sống, đã trải qua gian khổ, ác liệt và hy sinh. Những trải nghiệm, ký ức và bài học từ chiến tranh cần được truyền lại cho thế hệ sau.
Thông qua đó, góp phần giáo dục lý tưởng sống, hun đúc tinh thần trách nhiệm, giúp thế hệ trẻ có thái độ sống tích cực và nhận thức rõ nghĩa vụ của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Xin trân trọng cảm ơn Đại tá!