Nhìn lại bức tranh xuất nhập khẩu những tháng đầu năm 2026 và chặng đường vừa qua cho thấy một kỳ tích về tốc độ nhưng cũng sẽ có vài câu hỏi cần lời đáp để hướng tới một kỳ vọng lớn là đưa xuất khẩu lên "quỹ đạo" tăng trưởng hai con số. Đây cũng là nội dung sẽ được đề cập trong Hội nghị Thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu đạt hai con số do Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chủ trì, ngày 25 tháng 6 năm 2026.
Năm tháng đầu năm 2026 để lại một con số khiến nhiều người nức lòng. Theo Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chạm gần 215,7 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Đó là tốc độ mà phần lớn các nền kinh tế xuất khẩu trên thế giới đều ao ước. Trong một năm mà thương mại toàn cầu được dự báo phục hồi chậm chạp, một nền kinh tế giữ được nhịp tăng gần hai mươi phần trăm xứng đáng được gọi là điểm sáng.
Đi liền với tốc độ ấy là một thay đổi ở cán cân thương mại mà nếu không đọc kỹ rất dễ hiểu lầm. Năm tháng đầu năm, từ chỗ xuất siêu 5,1 tỷ USD cùng kỳ năm trước, Việt Nam chuyển sang nhập siêu khoảng 13,8 tỷ USD, và đến hết ngày 15/6/2026, con số này vào khoảng 16,8 tỷ USD.
Thoạt nhìn, một nền thương mại quen xuất siêu nhiều năm bỗng chuyển sang nhập siêu dễ bị xem là tín hiệu xấu. Nhưng nhìn vào cơ cấu thì bản chất lại khác. Phần lớn kim ngạch nhập khẩu tăng thêm là máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện, tức tư liệu đầu vào phục vụ chính những đơn hàng xuất khẩu đang dồn dập. Nói giản dị, doanh nghiệp nhập nhiều hơn vì đang sản xuất và xuất khẩu nhiều hơn. Đây là nhịp nhập khẩu của một guồng máy đang chạy mạnh, mang tính thời điểm theo chu kỳ sản xuất, và cho tới nay chưa gây sức ép lên tỷ giá nhờ cán cân thanh toán tổng thể vẫn được bảo đảm. Vì thế, nhập siêu lần này không phải nhập siêu của một nền kinh tế tiêu xài quá khả năng, mà là của một nền sản xuất đang sôi động.
Hiểu đúng như vậy để không bi quan, nhưng cũng để không chủ quan. Bởi chính việc xuất khẩu càng tăng tốc thì nhập khẩu đầu vào càng phải tăng theo lại gợi mở một câu hỏi sâu hơn về chất lượng tăng trưởng, một câu hỏi nên được đặt ra trên tinh thần xây dựng. Đằng sau tốc độ 19,5% đáng mừng là ba điều đáng suy nghĩ cho cả nền xuất khẩu, và điều đáng mừng là cả ba đều mở ra dư địa để vươn lên.
Một là cán cân đang nghiêng về nhập khẩu đầu vào, cho thấy công nghiệp hỗ trợ trong nước còn nhiều dư địa phát triển để tự cung ứng nhiều hơn. Hai là gần 4/5 kim ngạch hiện nằm ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ba là khát vọng hai con số cho cả giai đoạn, chính là không gian để phấn đấu. Ba điều ấy không tách rời nhau mà cùng quy về một hướng đi chung, và mỗi điều đều đã có lời giải, như loạt bài sẽ lần lượt phân tích.
Để hiểu vì sao những vấn đề ấy cần lưu tâm, trước hết phải thấy Việt Nam đang đứng ở đâu. Để thấy điều đó, cách tốt nhất là nhìn lại quãng đường mười năm.
Theo con số của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước mới đạt 327,76 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 162,11 tỷ USD và nhập khẩu 165,65 tỷ USD, cán cân còn nhập siêu nhẹ 3,54 tỷ USD. Mười năm sau, bức tranh đã ở một đẳng cấp hoàn toàn khác. Năm 2024, tổng kim ngạch chạm 786,29 tỷ USD, với xuất khẩu 405,53 tỷ USD và nhập khẩu 380,76 tỷ USD, xuất siêu 24,94 tỷ USD. Đến năm 2025, tổng kim ngạch đạt 930,05 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 475,04 tỷ và nhập khẩu 455,01 tỷ, xuất siêu 20,03 tỷ. Trong vòng một thập niên, quy mô thương mại đã gấp gần 2,8 lần, một nhịp độ thuộc hàng nhanh nhất khu vực.
Quy mô ấy đưa Việt Nam vào nhóm khoảng 20 nền kinh tế có thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới, và trở thành một mắt xích then chốt của chuỗi cung ứng toàn cầu ở các ngành điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ và nông thủy sản. Với một quốc gia trên dưới 100 triệu dân, độ mở của nền kinh tế đo bằng tỷ lệ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP thuộc loại cao nhất thế giới.
Nhưng đây chính là chỗ cần dừng lại để suy ngẫm. Độ mở rất lớn vừa là thành tựu, vừa là điểm dễ tổn thương. “Sức khỏe” của nền kinh tế gắn chặt với từng nhịp thở của thị trường bên ngoài, từ một quyết định thuế quan của bạn hàng lớn cho tới một cuộc xung đột địa chính trị ở khu vực xa xôi. Vị thế cường quốc thương mại đi kèm một độ nhạy cảm rất cao trước các cú sốc, một đặc điểm sẽ trở lại nhiều lần trong câu chuyện này.
Bối cảnh quốc tế năm 2026 càng làm nổi rõ độ nhạy cảm đó. Tăng trưởng kinh tế thế giới được dự báo chỉ khoảng 3%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với năm 2025; lạm phát toàn cầu nhích lên khoảng 4,4%; thương mại hàng hóa toàn cầu phục hồi chậm trong khi xu hướng bảo hộ gia tăng, các biện pháp phòng vệ thương mại và rào cản phi thuế quan tiếp tục được nhiều quốc gia mở rộng. Một nền thương mại mở rất cao như Việt Nam buộc phải vận hành giữa những cơn gió ngược, vừa giữ đà xuất khẩu vừa đối mặt với hàng rào ngày một dày ở các thị trường lớn. Ở chiều thuận, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử xuyên biên giới, năng lượng tái tạo và kinh tế xanh lại mở ra dư địa mới, nếu biết nắm bắt kịp thời.
Điều quan trọng hơn con số tuyệt đối là chất lượng của sự mở rộng. Quy mô xuất nhập khẩu lớn lên rất nhanh, nhưng phần lớn động lực đến từ khu vực có vốn nước ngoài và từ gia công, lắp ráp dựa trên nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu. Việt Nam đã trở thành một công xưởng lớn của thế giới, nhưng giá trị thực sự giữ lại được trên mỗi đồng kim ngạch còn mỏng. Đó là lý do không thể chỉ dừng ở việc ngợi ca quy mô, mà phải đi vào cấu trúc.
Hiện nay, "cỗ máy" xuất khẩu được lắp ráp từ những bộ phận nào? Có bốn lát cắt cùng soi chiếu lẫn nhau: theo mặt hàng, theo thị trường, theo loại hình doanh nghiệp và theo cán cân thương mại.
Điều đầu tiên lộ ra khi mổ xẻ theo mặt hàng là tốc độ tăng 19,5% không trải đều, mà dồn vào một nhóm động lực hẹp thuộc công nghiệp chế biến, dẫn đầu là điện tử.
Theo số liệu của Cục Xuất nhập khẩu, đầu tàu của cả nền xuất khẩu là nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. 5 tháng đầu năm 2026, nhóm này đạt 56,19 tỷ USD, tăng tới 46,2% so với cùng kỳ. Theo sau là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 26,9 tỷ USD, tăng 22,1%; và điện thoại các loại cùng linh kiện đạt 26,37 tỷ USD, tăng 17,7%. Ba nhóm hàng công nghệ này cộng lại đã vượt 109 tỷ USD, tức hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu năm tháng.
Trong khi đó, gỗ và sản phẩm gỗ, một mặt hàng chủ lực của khối nội địa, chỉ đạt 7,02 tỷ USD và tăng 2,9%. Khoảng cách giữa mức tăng 46,2% của điện tử và 2,9% của đồ gỗ chính là hình ảnh thu nhỏ của khoảng cách giữa hai khối doanh nghiệp, điều sẽ được mổ xẻ kỹ ở lát cắt sau.
Bức tranh cả năm 2025 củng cố nhận định này về thứ bậc các mặt hàng chủ lực. Năm 2025, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 107,75 tỷ USD. Con số này chiếm khoảng 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và tăng tới 48,4% so với năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 59,04 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện đạt 56,7 tỷ USD; dệt may đạt 46 tỷ USD; giày dép 29 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 17,2 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng 17,530 tỷ USD; thủy sản 11,3 tỷ USD (Con số của Cục Thống kê, Cục Hải quan). Như vậy nhóm tám mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD năm 2025 phần lớn là sản phẩm công nghiệp chế biến, và đỉnh của bảng xếp hạng đều là các ngành mà khu vực FDI giữ vai trò chi phối.
Nhưng câu chuyện thú vị nhất nằm ở nhóm nông, thủy sản, nơi bức tranh phân hóa rõ rệt và hé lộ một sự thật dễ bị che lấp: sự phân ly giữa lượng và giá. 5 tháng đầu năm 2026, nhiều mặt hàng đi lên, như rau quả đạt 2,77 tỷ USD, tăng 20,4% về trị giá; thủy sản đạt 4,67 tỷ USD, tăng 11,0%; hạt tiêu đạt 789,75 triệu USD, tăng 14,4% về trị giá nhờ lượng tăng mạnh 22,0% dù giá bình quân giảm 6,2%.
Ở chiều ngược lại là những mặt hàng bán được nhiều hơn nhưng thu về ít hơn. Gạo xuất khẩu 4,28 triệu tấn, tăng 1,9% về lượng, nhưng trị giá chỉ hơn 2 tỷ USD, giảm 7,4%, do giá bình quân tụt xuống 470,15 USD mỗi tấn, giảm 9,1% so với cùng kỳ. Cà phê là một nghịch lý điển hình hơn cả: lượng xuất khẩu tăng 7,8% lên 927,3 nghìn tấn, nhưng trị giá lại giảm 1,3% còn 4,23 tỷ USD, bởi giá bình quân rơi tới 19,7% xuống còn 4.557 USD mỗi tấn. Cao su giảm cả lượng lẫn giá, đạt 994,87 triệu USD, giảm 5,1% về trị giá. Hạt điều gần như đi ngang, đạt 1,88 tỷ USD.
Đằng sau những con số ấy là một thực tế đáng suy nghĩ về chất lượng tăng trưởng nông sản. Phần lớn nông sản chủ lực vẫn xuất thô, giá trị phụ thuộc vào biến động giá thế giới chứ chưa được nâng đỡ bởi chế biến sâu và thương hiệu. Khi giá quốc tế thuận, kim ngạch đẹp; khi giá quay đầu, dù nông dân vẫn bán được nhiều hơn về sản lượng thì giá trị thu về vẫn sụt giảm.
Có thể đo điều đó bằng con số: ở phía xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2026, yếu tố giá làm giảm kim ngạch khoảng 204 triệu USD, trong khi yếu tố lượng làm tăng khoảng 1,05 tỷ USD đối với nhóm mặt hàng có thống kê lượng. Nghĩa là nhóm này tăng được nhờ bán nhiều hơn chứ không phải bán giá cao hơn. Đó là một cảnh báo về chất: nếu giá thế giới tiếp tục bất lợi mà ta không nâng được hàm lượng chế biến, dư địa tăng trưởng từ sản lượng sẽ sớm chạm trần.
Nhìn theo nhóm lớn, một bức tranh trái chiều hiện ra. Nhóm nông, lâm, thủy sản đầu năm 2026 xuất khẩu 18,15 tỷ USD, chỉ tăng 0,9%, nhưng nhờ nhập khẩu nhóm này chỉ 11,92 tỷ USD nên vẫn giữ thặng dư khoảng 6,23 tỷ USD, tiếp tục bù đắp cho phần nhập siêu của công nghiệp. Riêng ngành dệt may theo nghĩa rộng, gồm cả xơ sợi, vải và nguyên phụ liệu, xuất khẩu 19,1 tỷ USD, nhập khẩu 11,89 tỷ USD, đạt thặng dư khoảng 7,2 tỷ USD. Trong khi nhóm điện tử tạo kim ngạch khổng lồ nhưng kéo theo nhập khẩu đầu vào lớn, thì nông thủy sản và dệt may lại âm thầm đóng góp thặng dư ròng đều đặn cho cán cân, dù tốc độ tăng khiêm tốn. Một gợi ý đáng giá cho bài toán cân bằng: muốn giảm nhập siêu, không chỉ kìm nhập khẩu mà còn phải nuôi dưỡng những nhóm hàng có hàm lượng nội địa cao và thặng dư ổn định.
Mổ xẻ theo thị trường cho thấy một cấu trúc lưỡng cực rõ rệt: Mỹ là đầu ra số một, còn Trung Quốc là nguồn nhập khẩu số một.
Bức tranh năm tháng đầu năm 2026 làm rõ điều đó. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 69,56 tỷ USD, tăng 21,7% và chiếm khoảng 32,3% tổng xuất khẩu cả nước. Cơ cấu hàng sang Mỹ dịch chuyển mạnh về công nghệ: riêng máy vi tính và linh kiện đạt 22,54 tỷ USD, tăng 54,9%, cùng máy móc thiết bị và điện thoại đã chiếm khoảng 55% kim ngạch xuất sang Mỹ.
Ở cực còn lại là Trung Quốc. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 30,10 tỷ USD, tăng 28,2%, còn nhập khẩu từ thị trường này lên tới 92,57 tỷ USD, tăng 33,6%, khiến Việt Nam nhập siêu khoảng 62,46 tỷ USD. Nhập khẩu từ Trung Quốc tập trung ở máy vi tính và linh kiện (31,55 tỷ USD, tăng 65,4%) và máy móc thiết bị.
Ba thị trường lớn còn lại cho thấy các sắc thái khác nhau. Liên minh châu Âu là khối mang lại thặng dư lớn nhất xét theo khu vực, với xuất khẩu 25,78 tỷ USD, tăng 13,3%, nhập khẩu 7,91 tỷ USD, xuất siêu khoảng 17,87 tỷ USD nhờ lợi thế Hiệp định EVFTA. Hàn Quốc là một nguồn nhập siêu lớn khác, khi xuất khẩu chỉ 13,18 tỷ USD nhưng nhập khẩu tới 34,27 tỷ USD, tăng 44,5%, đẩy nhập siêu lên khoảng 21,1 tỷ USD, chủ yếu vì nhập 24,02 tỷ USD máy vi tính và linh kiện, tức chip, màn hình và linh kiện bán dẫn cho các nhà máy FDI tại Việt Nam. Nhật Bản là điểm cân bằng hiếm hoi, xuất khẩu 12,06 tỷ USD và nhập khẩu 11,29 tỷ USD, xuất siêu nhẹ khoảng 0,78 tỷ USD.
Cấu trúc ấy cho thấy, bài toán đa dạng hóa thị trường, cả đầu ra lẫn đầu vào, vì thế không còn là một khuyến nghị lý thuyết mà đã thành yêu cầu cấp bách.
Cũng theo Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, 5 tháng đầu năm 2026, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 171,47 tỷ USD, chiếm 79,5% tổng kim ngạch; khối doanh nghiệp trong nước xuất khẩu 44,19 tỷ USD, chiếm 20,5%.
Điều cần lưu tâm không chỉ nằm ở tỷ lệ tĩnh tại một thời điểm, mà ở xu hướng động của nó. Tốc độ tăng trưởng của hai khối chênh lệch một trời một vực: khối FDI tăng 24,7%, trong khi khối nội địa chỉ tăng 2,9%. Với khoảng cách tốc độ ấy, tỷ trọng của khối nội địa không những không cải thiện mà còn có nguy cơ tiếp tục co lại. Khi cỗ máy ngoại lực tăng tốc gần 25% còn động cơ nội lực không thay đổi nhiều, khoảng cách giữa hai khối sẽ ngày một xa.
Nhìn dài hạn, tỷ trọng FDI trong xuất khẩu đã duy trì ở mặt bằng cao trong suốt nhiều năm, chiếm khoảng trên 71% trong những gần đây. Con số 79,5% của 5 tháng đầu năm 2026 vì thế là một mức cao đột biến, chủ yếu do nhóm điện tử của khối FDI bứt tốc gần 50% trong khi nông sản và hàng chế biến của khối nội địa chững lại. Dù con số tháng có thể dao động và chưa hẳn phản ánh xu hướng cả năm, thì mặt bằng dài hạn trên dưới 71% đã đủ cho thấy một thực tế cố hữu: ngoại lực vẫn là trụ chính của xuất khẩu Việt Nam suốt một thập niên, và mục tiêu nâng tỷ trọng khu vực nội địa vẫn còn dang dở.
Vì sao sự áp đảo của FDI lại là vấn đề, trong khi bản thân dòng vốn ngoại đã đóng góp to lớn cho việc làm, công nghệ và kim ngạch? Vấn đề nằm ở giá trị mà nền kinh tế giữ lại được. Khu vực FDI, đặc biệt trong điện tử, chủ yếu thực hiện công đoạn lắp ráp dựa trên linh kiện nhập khẩu, với tỷ lệ nội địa hóa còn rất thấp. Khi khối nội địa, vốn là nơi giá trị gia tăng ở lại trong nước nhiều hơn, lại tăng trưởng thấp hơn, thì tổng kim ngạch dù đẹp cũng không đồng nghĩa với giá trị thu về nhiều hơn.
Lát cắt cuối cùng đi vào điểm nóng nhất: sự đảo chiều của cán cân và bản chất của nhập siêu. Đây là chỗ tập trung của nghịch lý, và cũng là chỗ cần phân tích thận trọng nhất để không rút ra kết luận sai.
Cụ thể, tháng 1 nhập siêu khoảng 1,78 tỷ USD, tháng 2 khoảng 1,01 tỷ USD, sang tháng 4 lên 3,99 tỷ USD và tháng 5 đạt 5,21 tỷ USD. Tính đến hết ngày 15 tháng 6 năm 2026, nhập siêu đạt khoảng 16,8 tỷ USD.
Tuy nhiên, bản chất của nhập siêu này khác hẳn nhập siêu của một nền kinh tế tiêu xài quá khả năng. Cấu trúc nhập khẩu cho thấy phần lớn là tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện đầu vào phục vụ chính các đơn hàng xuất khẩu, chứ không phải hàng tiêu dùng xa xỉ. Số liệu lượng hóa rõ điều này: nhóm nguyên vật liệu, điện thoại và linh kiện, máy móc và năng lượng phục vụ sản xuất chiếm khoảng 87,8% tổng kim ngạch nhập khẩu, tức gần 90% hàng nhập về là đầu vào cho sản xuất chứ không phải tiêu dùng cuối cùng. Khi nhóm điện tử xuất khẩu của khối FDI tăng tới 46,2%, thì lượng linh kiện và thiết bị nhập về để phục vụ sản xuất nhóm này cũng phải tăng tương ứng. Đây là lý do nhập khẩu tăng tới 30,8%, nhanh hơn hẳn xuất khẩu: sản xuất bung ra mạnh đến đâu thì nhập khẩu đầu vào phình to đến đó.
Phân tích tác động giá và lượng ở phía nhập khẩu càng làm rõ điều này. Trong 5 tháng đầu năm 2026, yếu tố giá làm tăng kim ngạch nhập khẩu khoảng 750 triệu USD, còn yếu tố lượng làm tăng tới khoảng 3,24 tỷ USD đối với nhóm mặt hàng có thống kê lượng. Động lực chính khiến nhập khẩu phình to là khối lượng nhập tăng mạnh, tức nhu cầu đầu vào thực của sản xuất, chứ không phải do giá thế giới đắt lên. Hiểu theo nghĩa này, nhập siêu đầu năm 2026 mang dáng dấp của nhập siêu sản xuất, là dấu hiệu của một guồng máy đang chạy hết công suất chuẩn bị cho các đợt xuất khẩu lớn, hơn là dấu hiệu của một nền kinh tế mất cân đối chi tiêu.
Điều quan trọng hơn cả những con số là việc xác định đúng địa chỉ của vấn đề. Việc nhập siêu này, dù mang bản chất nhập siêu sản xuất và chưa gây sức ép lên tỷ giá nhờ một số tập đoàn giữ lợi nhuận tái đầu tư tại Việt Nam và cán cân thanh toán tổng thể vẫn được bảo đảm, vẫn là một lời cảnh báo về cấu trúc. Nó cho thấy mỗi lần nền kinh tế muốn xuất khẩu nhiều hơn thì lại buộc phải nhập nhiều hơn, và chừng nào công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đủ mạnh để thay thế dòng linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu, thì chừng đó vòng xoáy xuất khẩu kéo theo nhập khẩu vẫn còn tiếp diễn.
Bốn lát cắt, khi ghép lại, đã chỉ rõ những tồn tại của hoạt động xuất khẩu và để giải quyết, không thể chỉ thúc cho kim ngạch chạy nhanh hơn, mà phải sửa từ gốc: nâng nội lực doanh nghiệp Việt, phát triển công nghiệp hỗ trợ để tự thu hẹp nhập siêu và đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị thay vì đứng ngoài quan sát.
Vậy cái gốc ấy thực sự nằm ở đâu, và vì sao một nền kinh tế bán ra gần 475 tỷ USD hàng hóa mỗi năm vẫn giữ lại được quá ít giá trị? Những quốc gia từng đứng trước đúng bài toán này đã thoát ra bằng cách nào? Đó là câu chuyện của kỳ tiếp theo.