Nhu cầu linh kiện, phụ tùng gia tăng cùng sự mở rộng sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia mở ra cơ hội cho công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp trong nước vẫn khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng do phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, chi phí sản xuất cao và hạn chế về công nghệ.
Tại Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam - CTCP (VEAM), công nghiệp hỗ trợ đã trở thành trụ cột sản xuất, kinh doanh. Đến hết tháng 9/2026, doanh thu hoạt động công nghiệp hợp nhất của VEAM tăng 22% so với cùng kỳ, trong đó nhóm sản phẩm công nghiệp hỗ trợ tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng.
Dù vậy, theo ông Phạm Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc VEAM, khoảng 80-90% thép hợp kim, thép chế tạo, thép tấm đặc biệt và vật liệu phụ trợ đúc, rèn chất lượng cao vẫn phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Sự phụ thuộc này khiến doanh nghiệp dễ chịu tác động từ biến động giá nguyên liệu và chi phí logistics. Giá thành phôi đúc, phôi rèn trong nước cao hơn 10-15% so với sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ, tạo bất lợi cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa.
Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA), Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, chính sách hỗ trợ chưa gắn chặt với nhu cầu thực tế. Doanh nghiệp cần biết khách hàng cần linh kiện nào, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao và phải đầu tư những gì để trở thành nhà cung ứng.
Năng lực tiếp cận chính sách của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng hạn chế do thiếu nhân lực pháp chế, tài chính và công nghệ, gây khó khăn trong hoàn thiện hồ sơ và theo đuổi thủ tục. Trong khi đó, nguồn nhân lực kỹ thuật cao ở các lĩnh vực đúc luyện kim, rèn dập nóng, lập trình CNC đa trục, thiết kế khuôn mẫu chính xác và nhiệt luyện còn thiếu. Doanh nghiệp khó tuyển người đúng chuyên môn, nhiều đơn vị phải tuyển nhân lực ngành gần rồi đào tạo lại.
Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác, thiết bị điện và công nghệ cao. Tuy nhiên, theo ông Bùi Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước ở nhiều ngành còn khiêm tốn; doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu gia công, lắp ráp và cung ứng linh kiện đơn giản.
Vì vậy, mục tiêu dài hạn không chỉ là tăng sản lượng mà còn phải nâng cao năng lực chế tạo vật liệu, phát triển linh kiện kỹ thuật cao, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Chính sách cần xác định nhóm sản phẩm ưu tiên dựa trên nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất trong nước.
Đối với ngành điện tử, bà Hương cho rằng cần chú trọng linh kiện cơ khí chính xác, khuôn mẫu, vật liệu, bảng mạch, cụm linh kiện, thiết bị phụ trợ và dịch vụ kỹ thuật. Danh mục cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp nhận diện cơ hội, xác định yêu cầu đầu tư và tiếp cận chính sách phù hợp. Với ngành cơ khí chế tạo, cần làm rõ công đoạn có thể nội địa hóa, năng lực còn thiếu và khả năng hợp tác để doanh nghiệp đầu tư thiết bị, đào tạo nhân lực, nâng cấp quản lý, tránh đầu tư dàn trải.
VEAM xác định công nghiệp hỗ trợ, động cơ - máy nông nghiệp và ô tô - xe máy là ba trụ cột chiến lược giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035. Tháng 9/2026, đơn vị ban hành khung chương trình hành động phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và liên kết chuỗi. Các hệ thống quản lý dữ liệu, thiết bị, chất lượng và tiến độ sẽ hỗ trợ phối hợp giữa doanh nghiệp đầu chuỗi với nhà cung ứng vệ tinh.
Tuy nhiên, đầu tư công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, sản phẩm cụ thể, tiêu chuẩn và quy mô đơn hàng.
Hiệu quả chính sách cần được đánh giá bằng kết quả cụ thể như sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn, năng suất cải thiện, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước tăng và doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng mới.
Về dài hạn, phát triển các ngành công nghiệp cơ bản như luyện kim, đúc và rèn dập nóng là nền tảng của chiến lược tự chủ công nghiệp. Đồng thời, cần xây dựng các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và phòng thí nghiệm kiểm định dùng chung. Theo đại diện VEAM, doanh nghiệp hiện phải gửi mẫu chi tiết ra nước ngoài thử nghiệm, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian chờ đợi. Năng lực kiểm định trong nước ngày càng quan trọng khi khách hàng yêu cầu cao về dấu chân carbon, các yêu cầu về môi trường và tiêu chuẩn ESG.
Chuỗi cung ứng nội địa chỉ có thể hình thành bền vững khi nhu cầu khách hàng được kết nối với năng lực nhà cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật và nguồn lực đầu tư. Đây là vai trò quan trọng của xúc tiến thương mại trong phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, kết nối giao thương cần làm rõ nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình đánh giá nhà cung ứng và khả năng hợp tác dài hạn. Thông tin từ khách hàng giúp doanh nghiệp xác định sản phẩm có thể thay thế hàng nhập khẩu và những năng lực cần đầu tư. Nếu thiếu thông tin thị trường, doanh nghiệp dù có máy móc và đội ngũ kỹ thuật tốt vẫn khó tìm đơn hàng; ngược lại, nhu cầu rõ ràng sẽ giúp xây dựng lộ trình nâng cấp thiết bị, quản trị chất lượng, đào tạo và kiểm định.
Xúc tiến thương mại còn tạo cơ hội tiếp cận công nghệ, nguồn đầu tư từ các quốc gia có ngành chế tạo phát triển như Hà Lan và các nước trong Liên minh châu Âu (EU). Để trở thành đối tác, doanh nghiệp trong nước cần đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế, đáp ứng yêu cầu về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng. Do đó, kết nối thị trường phải song hành với nâng cấp năng lực sản xuất để chuyển cơ hội thành đơn hàng thực tế.
Trong nước, VEAM đang triển khai cơ sở dữ liệu số dùng chung về năng lực sản xuất, gồm thiết bị, công suất khả dụng, công nghệ đúc, rèn, CNC, nhiệt luyện và nhu cầu thuê ngoài của các đơn vị thành viên, doanh nghiệp vệ tinh. Hệ thống hướng tới điều phối công suất, tận dụng thiết bị nhàn rỗi và hạn chế đầu tư trùng lặp.
VEAM cũng xây dựng mạng lưới tổ chuyên gia kỹ thuật nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vệ tinh giải quyết vấn đề kỹ thuật, thiết kế khuôn mẫu, cải tiến dây chuyền, áp dụng Kaizen/5S và đào tạo nhân lực tại chỗ. Những hoạt động này giúp thu hẹp khoảng cách thông tin, bổ sung nguồn lực kỹ thuật và tạo cơ sở để doanh nghiệp đầu chuỗi phân bổ đơn hàng, xác định nhu cầu đầu tư phù hợp.
Qua đó, xúc tiến thương mại có thể trở thành cầu nối giữa nhu cầu thị trường quốc tế với năng lực cung ứng trong nước. Theo đó, thông tin từ đối tác được chuyển hóa thành yêu cầu sản xuất cụ thể, còn dữ liệu doanh nghiệp nội địa trở thành cơ sở tìm kiếm khách hàng, nhà đầu tư và đối tác công nghệ.
Về chính sách, VEAM kiến nghị xây dựng khuôn khổ pháp lý dài hạn cho công nghiệp trọng điểm, nghiên cứu tín dụng ưu đãi và ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu, phát triển; đầu tư các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, phòng thí nghiệm kiểm định dùng chung tại ba miền; tháo gỡ vướng mắc về thủ tục đầu tư và hỗ trợ phát triển các ngành cơ bản như đúc, luyện kim, rèn dập nóng.
Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng, hiệp hội ngành hàng, cơ sở đào tạo và đối tác đầu tư. Xúc tiến thương mại vì thế không chỉ mở rộng thị trường mà còn phải góp phần hình thành quan hệ cung ứng, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ, tạo nền tảng nối dài chuỗi cung ứng nội địa cho công nghiệp hỗ trợ.