Đóng

Một luật sửa 4 luật ngành Công Thương - Bài 2: Luật Thương mại gọn lại, ngoại thương thông hơn

Sau hai thập kỷ góp phần đưa tổng mức bán lẻ tăng gần 15 lần, kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 930 tỷ USD, Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương được sửa đổi theo hướng thống nhất với luật chung, chuyển mạnh sang hậu kiểm, phân quyền cho địa phương nhưng giữ quản lý thống nhất.

Nói chuyện tại Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất (5/1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên đề cập trực diện đến vị trí, vai trò của thương nghiệp trong nền kinh tế quốc dân cũng như mối quan hệ với nông nghiệp và công nghiệp. Theo Người, trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau. Người khẳng định: “Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp”.

Hôm nay, khâu ấy được giữ bằng hai đạo luật: Luật Thương mại năm 2005 quy định về hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại và Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước đối với ngoại thương. Chiều 20/10/2026, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Chiều cùng ngày, các đại biểu Quốc hội cũng thảo luận tại Tổ về dự án Luật này.

Theo Bộ Công Thương, dự án Luật đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; thực hiện 10 nội dung phân cấp, phân quyền; tháo gỡ, hoàn thiện 31 nội dung khó khăn, vướng mắc của pháp luật. Phần lớn các thủ tục được cắt giảm nằm ở hai đạo luật của khâu thương mại, ngoại thương.

Chiều 20/10/2026, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Luật Thương mại năm 2005 ra đời khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ khoảng dưới 480 nghìn tỷ đồng. Năm 2025, con số này đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng gần 15 lần, với đà tăng trưởng ổn định trên 10% mỗi năm. Luật cũng lần đầu đưa nhiều khái niệm mang tính quốc tế vào thực tiễn, tạo nền cho những ngành mới.

Đặc biệt, thị trường thương mại điện tử từ gần như bằng 0 năm 2005 đã đạt 32 tỷ USD năm 2025, liên tục thuộc nhóm 3 quốc gia tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á. Ngành dịch vụ logistics tăng trưởng 10 - 15% mỗi năm, trở thành huyết mạch kết nối hàng Việt ra thế giới. Chưa kể, những quy định thông thoáng về nhượng quyền thương mại giúp làn sóng nhượng quyền toàn cầu vào Việt Nam hợp pháp, an toàn, đồng thời mở đường cho thương hiệu Việt nhượng quyền ra nước ngoài.

Tiếp đến, Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 đi cùng giai đoạn bứt phá của xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ khoảng 400 tỷ USD năm 2017 lên khoảng 930 tỷ USD năm 2025. Công cụ phòng vệ thương mại được sử dụng chủ động: giai đoạn 2004 - 2016, trước khi có Luật, Việt Nam mới khởi xướng điều tra 6 vụ việc; đến giữa năm 2026, con số này là 61 - 62 vụ việc, với gần 40 biện pháp đang được duy trì. Luật cũng tạo cơ chế cảnh báo sớm để ứng phó với 327 vụ điều tra phòng vệ thương mại từ 27 thị trường.

Uy tín hàng Việt cũng được nâng lên. Số doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia tăng từ 88 doanh nghiệp năm 2016 lên 499 sản phẩm của 227 doanh nghiệp năm 2026, với tổng doanh thu khoảng 2,5 triệu tỷ đồng, nộp ngân sách trên 133 nghìn tỷ đồng. Theo Brand Finance, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026 đạt 462,279 tỷ USD, gấp 3 lần năm 2016. Giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia hỗ trợ trực tiếp trên 41.000 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng và các doanh nghiệp Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”

Trên nền tảng pháp lý đó, những bất cập, vướng mắc phát sinh sau nhiều năm thi hành các luật cần được kịp thời tháo gỡ. Theo Tờ trình số 713/TTr-CP ngày 18/9/2026 của Chính phủ về dự án Luật, đối với Luật Thương mại, một số quy định về hoạt động bị cấm và điều kiện kinh doanh còn trùng lặp với Luật Đầu tư; quy định về độc quyền nhà nước chưa phù hợp; một số nội dung còn chồng chéo với Bộ luật Dân sự và Luật Đấu giá tài sản. Đối với Luật Quản lý ngoại thương, những vướng mắc chủ yếu liên quan đến việc tái nhập khẩu hàng hóa do chính doanh nghiệp sản xuất và đã xuất khẩu; hoạt động ngoại thương với khu vực hải quan riêng; quy định về chứng nhận và tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

Trong buổi thảo luận Tổ chiều 20/10, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng làm rõ một số vấn đề các đại biểu Quốc hội cho ý kiến đối với dự án Luật.

Tại phiên thảo luận Tổ chiều 20/10 về dự án Luật này, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cũng cho biết, Luật Thương mại đã hoàn thành vai trò, sứ mệnh, giúp Việt Nam hội nhập rất thành công, nhất là trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đồng thời thúc đẩy thị trường trong nước phát triển. Hiện nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2005 mới đạt dưới 480 nghìn tỷ đồng, đến năm 2025 đã đạt trên 7 triệu tỷ đồng, tăng gần 15 lần. Luật cũng góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển đồng bộ.

Chưa kể, trong 20 năm qua, trên cơ sở Luật Thương mại, nhiều luật chuyên ngành đã được xây dựng và ban hành như Luật Đấu giá tài sản, Luật Đấu thầu, Luật Quảng cáo, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2015. Thực chất, nhiều nội dung của Luật Thương mại đã được chuyển hóa vào các bộ luật, luật chuyên ngành, với quy định cụ thể cho từng lĩnh vực theo quá trình phát triển.

Lý giải việc chưa sửa đổi toàn bộ Luật Thương mại, Bộ trưởng cho biết, hiện đang tập trung ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn trước, thông qua phân cấp, phân quyền để giải quyết ngay các vấn đề ách tắc, chồng chéo. Việc bãi bỏ một số điều không gây ảnh hưởng đến các giao dịch cũng như giải quyết tranh chấp thương mại.

Cũng theo Tờ trình của Chính phủ, với Luật Thương mại, dự thảo Luật bãi bỏ 3 nhóm điều kiện kinh doanh, 4 thủ tục hành chính, tiếp tục phân cấp thẩm quyền; đồng thời sửa đổi, bãi bỏ 3 nội dung còn mâu thuẫn, chồng chéo hoặc tiềm ẩn vướng mắc.

Thay đổi lớn nhất là bãi bỏ các quy định về hợp đồng, chế tài và giải quyết tranh chấp. Lý do được Bộ Công Thương giải thích cụ thể: một số quy định của Luật Thương mại năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 còn khác biệt về cơ chế điều chỉnh, như mức phạt vi phạm hợp đồng không phù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận của Bộ luật Dân sự, hay thời hiệu khởi kiện khác nhau giữa hai đạo luật. Việc duy trì quy định riêng gây khó khăn khi phát sinh tranh chấp. Bãi bỏ là để bảo đảm thống nhất, đồng bộ, tăng tính dễ đoán định và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Cũng trong phiên thảo luận Tổ vào chiều 20/10, giải thích thêm về nội dung này, Bộ trưởng Lê Mạnh cho biết, các thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tiếp tục điều chỉnh theo Luật Trọng tài thương mại. Hợp đồng thuộc phạm vi Công ước Viên 1980 (CISG), các tập quán, thông lệ thương mại và bộ quy tắc do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) tiếp tục được áp dụng, không phụ thuộc vào việc bãi bỏ các quy định của Luật Thương mại.

Doanh nghiệp đón nhận hướng đi này. Trả lời Báo Công Thương ngày 9/3/2026 về nội dung này, ông Nguyễn Minh Đức, Quản lý chính sách công của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN, cho rằng sự chồng chéo về hợp đồng khiến “có những tranh chấp thương mại phải mất nhiều năm vẫn chưa thể xử lý dứt điểm”.

Đáng lưu ý, để bảo đảm tính liên tục của các quan hệ thương mại, dự thảo bổ sung quy định chuyển tiếp: "Hợp đồng được giao kết theo quy định của Luật Thương mại trước ngày Luật này có hiệu lực thì các bên tiếp tục thực hiện đến khi hợp đồng chấm dứt". Quyền và nghĩa vụ đã được xác lập hợp pháp của các bên vì thế được bảo đảm. Luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.

Theo hướng thống nhất các quy định pháp luật, dự thảo Luật đề xuất bãi bỏ Điều 25 và Điều 76 của Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện. Việc bãi bỏ nhằm tránh chồng chéo, trùng lặp với Luật Đầu tư năm 2025, vốn đã quy định thống nhất về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể, việc quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Bên cạnh đó, Luật Thương mại hiện hành giao Chính phủ quy định cụ thể hàng hóa, dịch vụ hoặc địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại. Theo Bộ Công Thương, quy định này không còn phù hợp, bởi những nội dung liên quan đến độc quyền nhà nước cần được quy định tại luật, thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Quốc hội.

Chính vì vậy, tại Khoản 4 Điều 6 sửa đổi quy định Nhà nước thực hiện độc quyền đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia "theo quy định của luật về ngành, lĩnh vực có liên quan". Danh mục thuộc phạm vi độc quyền nhà nước phải được công bố công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư. Liên quan đến nội dung này, nhiều đại biểu Quốc hội cũng tán thành, thống nhất với quy định danh mục hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi độc quyền nhà nước phải được công bố công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư, vì góp phần bảo đảm minh bạch, giúp doanh nghiệp, người dân dễ tiếp cận thông tin.

Dịch vụ giám định thương mại là ví dụ rõ nhất cho việc chuyển tư duy quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Luật Đầu tư năm 2025 đã đưa dịch vụ này ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị quyết số 141/NQ-CP của Chính phủ về chính sách của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đã chốt chính sách bãi bỏ điều kiện kinh doanh và thủ tục đăng ký con dấu trong hoạt động giám định.

Tại dự thảo Luật, Điều 256 sửa đổi, thương nhân "có quyền tự do kinh doanh dịch vụ giám định thương mại theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hoạt động giám định, chứng thư giám định do mình cung cấp". Đi cùng quyền ấy là ba nghĩa vụ: xây dựng, ban hành quy trình thực hiện giám định; lưu trữ hồ sơ tương ứng với quy trình; với hồ sơ điện tử, bảo đảm "tính toàn vẹn, khả năng truy cập, khai thác và truy xuất khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền". Theo Bộ Công Thương, đây là cơ sở để tăng cường hậu kiểm, xác định trách nhiệm và xử lý vi phạm.

Điều 260 cho phép chứng thư giám định lập dưới dạng thông điệp dữ liệu có ký số; con dấu do thương nhân tự quản lý, chỉ phải công bố công khai mẫu dấu nghiệp vụ. Điều 267 cho phép thương nhân giám định nước ngoài ủy quyền cho thương nhân trong nước thực hiện, nhưng vẫn chịu trách nhiệm về kết quả.

Đáng chú ý, dự thảo Luật sửa Điều 135 theo hướng mở: "Tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ đều được tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài"; riêng hàng thuộc Danh mục cấm xuất khẩu thực hiện theo quy định của Chính phủ. Thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ khi tổ chức cho thương nhân khác tham gia hội chợ ở nước ngoài đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính (Điều 133). Hàng hóa, dịch vụ Việt Nam được bán, tặng, cung ứng ngay tại hội chợ, phù hợp quy định của nước sở tại và pháp luật về quản lý ngoại thương (Điều 137).

Về khuyến mại, Điều 94 giao Bộ đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thương mại quy định hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa theo từng thời kỳ, phù hợp chính sách cạnh tranh. Dự thảo cũng thay cụm từ "Bộ Công Thương" bằng "Bộ đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thương mại", để luật ổn định trước những thay đổi của tổ chức bộ máy.

Đối với Luật Quản lý ngoại thương, dự thảo Luật đề xuất bãi bỏ 2 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 9 thủ tục và nhóm thủ tục; thực hiện 5 nội dung phân cấp, phân quyền và hoàn thiện 4 nội dung nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

Một trong những điểm sửa đổi đáng chú ý là tháo gỡ vướng mắc về việc nhập khẩu trở lại hàng hóa do doanh nghiệp trong nước sản xuất và đã xuất khẩu. Theo nội dung sửa đổi tại Điều 10 và Điều 14, Chính phủ quy định các trường hợp được phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục cấm nhằm phục vụ các mục đích đặc dụng; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; y tế; sản xuất dược phẩm; quốc phòng, an ninh; tham gia hội chợ, triển lãm ở nước ngoài hoặc nhập khẩu trở lại hàng hóa sản xuất trong nước đã xuất khẩu. Đối với hàng hóa thuộc diện tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, UBND cấp tỉnh được giao thẩm quyền cấp phép trong các trường hợp tương tự. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp đưa hàng hóa đã xuất khẩu trở lại Việt Nam khi phát sinh nhu cầu bảo hành, sửa chữa.

Dự thảo Luật cũng làm rõ các quy định liên quan đến khu vực hải quan riêng. Theo Điều 3, đây là khu vực được cơ quan có thẩm quyền thành lập hoặc công nhận, chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan; quan hệ mua bán hàng hóa giữa khu vực này với phần lãnh thổ còn lại của Việt Nam và với nước ngoài được xác định là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Điều 5 quy định rõ quyền xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa với khu vực hải quan riêng, nhưng không bao gồm quyền tổ chức mạng lưới thu mua, gom hàng hoặc hệ thống phân phối.

Bên cạnh đó, dự thảo sửa đổi Điều 41 và Điều 42 theo hướng mở rộng các mục đích tạm nhập, tái xuất và tạm xuất, tái nhập hàng hóa, bao gồm bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, thuê, mượn, trưng bày và tham gia hội chợ. Đối với hàng hóa không thuộc diện phải cấp giấy phép, doanh nghiệp chỉ cần thực hiện thủ tục hải quan theo quy định. Đồng thời, Điều 29 bổ sung hình thức cấp giấy phép thông qua phản hồi bằng thông điệp dữ liệu trên hệ thống dịch vụ công, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính.

Phân quyền mạnh cho địa phương là điểm nhấn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến chứng nhận xuất xứ, gia công, quá cảnh và hàng hóa tạm ngừng xuất nhập khẩu; nhiều khâu xin ý kiến Trung ương được bãi bỏ hoặc đơn giản hóa. Lý do được Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Công Thương Ngô Đức Minh nói gọn: "hầu hết các nhà máy sản xuất và gia công đều đặt tại địa phương. Nếu doanh nghiệp phải tập trung làm thủ tục tại Bộ Công Thương ở Trung ương sẽ mất nhiều thời gian và chi phí". Đi cùng phân quyền là quy định chặt về quá cảnh: hàng hóa chỉ được quá cảnh qua cửa khẩu quốc tế, theo tuyến đường đã thông báo với hải quan (Điều 46); với vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, Bộ đầu mối về ngoại thương chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định (Điều 44).

Liên quan đến nội dung phân cấp, phân quyền, trong báo cáo thẩm tra dự án Luật do Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày chiều 20/10, Ủy ban cho biết, Ủy ban cơ bản tán thành phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép trong một số trường hợp ngoại lệ. Tuy vậy, cần đánh giá đầy đủ nguồn lực, năng lực chuyên môn của địa phương; cơ quan Trung ương tiếp tục thống nhất hướng dẫn nghiệp vụ, cơ sở dữ liệu, kiểm tra, giám sát.

Chứng nhận xuất xứ là chìa khóa để hàng Việt hưởng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do. Hiện Bộ Công Thương tổ chức cấp 13 mẫu C/O ưu đãi hoàn toàn theo phương thức điện tử. Tỷ lệ cấp C/O ưu đãi trong tổng kim ngạch xuất khẩu tại nhiều thị trường chủ lực ở mức trên 30%: EU 34,1%, Vương quốc Anh 31,9%, Nhật Bản trên 35%, Trung Quốc và ASEAN đều trên 30%.

Điều 32 sửa đổi xác định ba hình thức chứng nhận xuất xứ: cấp Giấy chứng nhận xuất xứ; cấp Văn bản chấp thuận cho thương nhân tự chứng nhận xuất xứ theo điều ước quốc tế; tiếp nhận đăng ký mã số theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập. Chứng từ tự chứng nhận do thương nhân tự phát hành được ghi nhận chính thức. Điều 34 phân định: Bộ đầu mối về ngoại thương quản lý nhà nước về xuất xứ, chứng nhận theo điều ước quốc tế, quy định tiêu chí cho cơ quan, tổ chức chứng nhận; Bộ đầu mối về tài chính chứng nhận xuất xứ hàng nhập khẩu; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chứng nhận xuất xứ hàng xuất khẩu. Điều 36 mở rộng Giấy chứng nhận lưu hành tự do thành văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp.

Bộ Công Thương nhấn mạnh: phân quyền không đồng nghĩa với phân tán hệ thống quản lý. Với xuất xứ hàng hóa, cần tiếp tục duy trì tiêu chí của cơ quan, tổ chức cấp C/O và Văn bản chấp thuận, cơ sở dữ liệu, quy trình kiểm tra, xác minh và đầu mối trao đổi thống nhất với đối tác FTA, để thực hiện đúng cam kết quốc tế và giữ uy tín hàng Việt. Yêu cầu này cũng trùng với ý kiến của Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính về "một đầu mối trao đổi quốc tế, một cơ sở dữ liệu và quy trình thu hồi, xác minh thống nhất".

Những nội dung được Bộ Công Thương - cơ quan được Chính phủ giao chủ trì soạn thảo dự án Luật đưa ra cũng là những nhiệm vụ được Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhắc đến trong buổi làm việc với Bộ Công Thương vào ngày 27/5/2026 về nghị định xuất xứ hàng hoá quá hạn ban hành; luật mở tự chứng nhận mà nghị định chưa có thì doanh nghiệp vẫn chưa làm được gì.

Đề xuất này của Chính phủ nhận được sự đồng tình, đánh giá cao của các đại biểu Quốc hội. Thảo luận tại Tổ 3 về dự án Luật, nhiều đại biểu cho biết thống nhất với nội dung dự thảo, định hướng giao UBND cấp tỉnh chứng nhận xuất xứ hàng hóa, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm khâu trung gian, nâng cao tính chủ động của địa phương. Tuy nhiên, phân cấp cần đi đôi với cơ chế phối hợp, hướng dẫn nghiệp vụ và chia sẻ thông tin, nhất là trong chứng nhận và kiểm tra, xác minh xuất xứ; nếu thiếu có thể dẫn đến cách thực hiện không thống nhất giữa các địa phương, ảnh hưởng hoạt động xuất khẩu và giảm hiệu lực quản lý. Đề nghị làm rõ cơ chế phối hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính và UBND cấp tỉnh; xác định rõ trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, cập nhật dữ liệu, phối hợp kiểm tra, xác minh xuất xứ.

Bản trình Quốc hội chiều 20/10/2026 của Chính phủ đã tiếp thu nhiều ý kiến thẩm tra từ các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội cùng các đại biểu Quốc hội trước đó cho ý kiến: có lối chuyển tiếp cho hợp đồng, có nghĩa vụ quy trình, lưu trữ làm cơ sở hậu kiểm giám định, có địa chỉ đăng ký hội chợ rõ ràng, có cơ chế phối hợp liên ngành khi cấp phép quá cảnh hàng đặc thù. Để luật sớm phát huy hiệu quả, ba việc cần được chuẩn bị song song.

Thứ nhất, các văn bản hướng dẫn phải sẵn sàng. Theo Tờ trình, Bộ Công Thương sẽ trình Chính phủ ban hành 4 nghị định và ban hành theo thẩm quyền 3 thông tư. Trong đó, nghị định về xuất xứ hàng hóa cần quy định cụ thể tiêu chí, cơ sở dữ liệu và quy trình xác minh dùng chung cho cả 34 tỉnh, thành phố.

Thứ hai, hậu kiểm cần có cơ chế vận hành rõ ràng. Quy trình, hồ sơ của tổ chức giám định đã là cơ sở pháp lý; việc kiểm tra định kỳ, đột xuất và xử lý khi chứng thư sai lệch cần được cụ thể hóa để quyền tự do kinh doanh đi cùng trách nhiệm.

Thứ ba, năng lực thực thi ở địa phương cần được bảo đảm. Tờ trình khẳng định việc thi hành không phát sinh bộ máy, biên chế; các nội dung phân quyền cơ bản đã được triển khai trên thực tế và đánh giá khả thi. Việc tập huấn, chia sẻ dữ liệu giữa Trung ương và địa phương sẽ giúp các tỉnh thực hiện thống nhất các thủ tục mới.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn giữ cho khâu thương nghiệp không bị đứt. Hôm nay khâu ấy nối người mua với người bán trên sàn, nối nhà máy Việt với thị trường của hàng chục hiệp định. Chưa kể, hai mươi năm qua, Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương đã góp phần làm nên quy mô thị trường bán lẻ gấp gần 15 lần, kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 930 tỷ USD. Lần sửa đổi này được kỳ vọng tiếp tục làm gọn, làm thông khâu nối ấy: thống nhất với luật chung, chuyển sang hậu kiểm, trao quyền cho địa phương nhưng giữ quản lý thống nhất. Đó là điều kiện để hàng Việt đi nhanh hơn, xa hơn, từ nhà máy đến mọi thị trường.

Đón đọc Bài 3 - Đo được sức mạnh nền tảng số mới giữ được cạnh tranh

Lâm Vỹ Sơn - Hoàng Giang - Hồng Thịnh - Nam Nguyễn