Đóng

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số: Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm

Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, doanh nghiệp phải trở thành lực lượng trung tâm, đòi hỏi chính sách đồng bộ để doanh nghiệp khơi thông nguồn lực và mở rộng thị trường.

Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động

Chia sẻ tại Diễn đàn Kích hoạt tăng trưởng, chính sách vĩ mô đột phá và mục tiêu 2 con số do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới tổ chức ngày 14/7, TS. Phạm Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế.

Diễn đàn Kích hoạt tăng trưởng, chính sách vĩ mô đột phá và mục tiêu 2 con số do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới tổ chức ngày 14/7. Ảnh: NH

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Với vai trò đó, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, đạt 20 doanh nghiệp hoạt động trên 1.000 dân; có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, theo TS. Phạm Anh Tuấn: “Nếu muốn đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 thì trong 5 năm tới, mỗi năm chúng ta phải có thêm ít nhất 200 nghìn doanh nghiệp hoạt động. Tuy nhiên, thống kê giai đoạn 2016-2025 cho thấy, chưa năm nào số doanh nghiệp tăng thêm vượt quá 100 nghìn doanh nghiệp. Vì vậy, mục tiêu tăng thêm 200 nghìn doanh nghiệp mỗi năm thực sự là một thách thức rất lớn”.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, theo số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, cả nước có 111,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập thị trường lên 169,8 nghìn. Bình quân mỗi tháng, cả nước có hơn 28,3 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Kết quả này phản ánh hiệu quả bước đầu của các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và từng bước khôi phục niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp.

Ở chiều ngược lại, trong 6 tháng đầu năm vẫn có 151,1 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường, tương đương bình quân hơn 25 nghìn doanh nghiệp rời thị trường mỗi tháng.

Mặc dù số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui, nhưng lượng doanh nghiệp rời thị trường vẫn tương đương khoảng 89% số doanh nghiệp gia nhập. Điều này cho thấy sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế trước áp lực chi phí, cạnh tranh và biến động thị trường. Vì vậy, để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, không chỉ cần tăng số doanh nghiệp gia nhập mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì hoạt động và phát triển.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, cần nhìn nhận rõ hơn vai trò của khu vực doanh nghiệp đối với hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng.

TS. Phạm Anh Tuấn phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: NH

Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động

Số liệu của Cục Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh vướng mắc về cơ chế, chính sách đã giảm còn 9,4%. Tuy nhiên, bức tranh gia nhập và rút lui khỏi thị trường cho thấy điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở thủ tục hành chính, mà còn ở khả năng tiếp cận nguồn lực, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đánh giá những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chỉ ra ba điểm nghẽn lớn. Trong đó, khó khăn nổi bật nhất là khả năng tiếp cận vốn, đất đai và công nghệ.

“Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng, có thị trường nhưng vẫn không thể mở rộng sản xuất vì không đáp ứng được điều kiện vay vốn, tiếp cận nguồn hàng. Đây là điểm nghẽn lớn nhất” - ông Tô Hoài Nam khẳng định.

Điểm nghẽn thứ hai là chi phí tuân thủ vượt quá năng lực của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không né tránh nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, nhưng cần một cơ chế thực hiện phù hợp hơn với quy mô và năng lực.

Điểm nghẽn thứ ba là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hiện vẫn thiên về giải quyết khó khăn trước mắt, trong khi chưa chú trọng đúng mức đến hỗ trợ dài hạn. “Hiện hỗ trợ về tài chính, thuế là cần thiết, nhưng yếu tố quyết định để doanh nghiệp phát triển khỏe mạnh, bền vững là cơ chế tiếp cận nguồn lực bình đẳng” - ông Tô Hoài Nam thông tin.

Từ những phân tích trên, ông Tô Hoài Nam cho rằng, để hỗ trợ khu vực doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ưu tiên trước hết là hoàn thiện thể chế, bảo đảm doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận bình đẳng các điều kiện sản xuất. Doanh nghiệp cũng cần cơ hội bình đẳng trong tiếp cận đất đai, nhiên liệu và nguồn lực. Cùng với đó, cần chuyển từ tư duy hỗ trợ sang kiến tạo môi trường phát triển. Đây là nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực và phát triển bền vững.

Nhìn sâu hơn vào bức tranh doanh nghiệp, TS. Phạm Anh Tuấn cho rằng, Việt Nam có một số doanh nghiệp lớn đang phát triển tốt, nhưng phần đông doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ vẫn gặp nhiều khó khăn. Với thực trạng đó, khả năng tích lũy để đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường hoặc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu còn rất hạn chế.

Cùng quan điểm, TS. Phạm Anh Tuấn cũng chỉ ra những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Trước hết là điểm nghẽn thể chế. Doanh nghiệp vẫn phải gánh chi phí tuân thủ lớn, trong khi tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách chưa thực sự được bảo đảm.

Bên cạnh đó là tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn. Trong 6 tháng đầu năm, lãi suất ngân hàng thương mại tăng cao, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn. Tình trạng này thể hiện rõ ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa; trong khi một số doanh nghiệp lớn vẫn có khả năng huy động vốn, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều trở ngại. Bên cạnh đó là rào cản trong tiếp cận đất đai, công nghệ và dữ liệu. Dữ liệu được xem là nguồn lực mới của nền kinh tế số, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có đủ điều kiện tiếp cận, khai thác hiệu quả.

Điểm nghẽn tiếp theo là thị trường. Trong bối cảnh tiêu chuẩn của các thị trường quốc tế ngày càng cao và chặt chẽ hơn, doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều sức ép trong đáp ứng yêu cầu, duy trì đơn hàng và mở rộng thị phần.

Cuối cùng là điểm nghẽn về đổi mới. Nền kinh tế cần doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng trên thực tế, phần lớn doanh nghiệp chưa có đủ nguồn lực tài chính, nhân lực và năng lực quản trị để triển khai.

Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn và thách thức, TS. Phạm Anh Tuấn cho rằng, để khu vực doanh nghiệp phát triển và đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế, cần tập trung vào hai nhóm chính sách. Trước hết là nhóm chính sách hỗ trợ phát triển năng lực doanh nghiệp phù hợp với từng giai tầng, quy mô và trình độ phát triển.

Nhóm thứ hai là các chính sách vi mô mang tính đột phá, trong đó tiếp tục cải cách thể chế, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực của nền kinh tế. Đồng thời, cần phát triển thị trường vốn để doanh nghiệp có thêm kênh huy động nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.

Cùng với đó, cần hoàn thiện chính sách thuế để hỗ trợ đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Muốn doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, phải có cơ chế hỗ trợ vì năng lực tài chính của phần lớn doanh nghiệp còn hạn chế. Theo thống kê, khoảng 95% sáng chế công nghệ của Trung Quốc đến từ doanh nghiệp nhỏ và vừa, không phải từ các viện nghiên cứu hay doanh nghiệp lớn. Đây là bài học đáng tham khảo.

Để khu vực doanh nghiệp đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng, một trong những giải pháp được các chuyên gia đề cập đó là nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước trước làn sóng đầu tư quốc tế. Ngoài ra, tăng cường kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI sẽ giúp tận dụng công nghệ, kinh nghiệm quản trị và chuyển hóa thành năng lực nội sinh của nền kinh tế. 

Nguyễn Hoà