Đóng

Năm 2026 hướng tới bứt phá, nâng chất lượng tăng trưởng GDP

Tăng trưởng GDP 2025 đạt khoảng 8%, tạo nền tảng cho mục tiêu năm 2026 đó là tăng trưởng hai con số nhưng phải đi cùng chất lượng, bền vững và nâng cao nội lực kinh tế.

Tăng trưởng mạnh nhưng đi cùng cải cách nền tảng

Thế giới năm 2025 không phải một năm bình yên. Xung đột địa chính trị leo thang, đứt gãy chuỗi cung ứng xảy ra ở nhiều nơi, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu tăng nhanh. Việt Nam, với nền kinh tế có độ mở lớn, không nằm ngoài những tác động đó. Mưa lũ, thiên tai nối tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất, đời sống dân cư và hạ tầng kinh tế.

Sáng 13/11, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026, đặt mục tiêu tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) phấn đấu từ 10% trở lên. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, trong khó khăn, khả năng chống chịu của nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được chứng minh. Tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2025 ước đạt khoảng 8%, lạm phát được kiểm soát, nợ công và các chỉ số vĩ mô duy trì trong ngưỡng an toàn. Hơn 300.000 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường - con số kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây.

Đây là thành quả không tự có, mà đến từ nỗ lực điều hành linh hoạt của Chính phủ, sự chủ động của các bộ, ngành và sức bật phục hồi mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp. Và quan trọng hơn, nó tạo niềm tin cho giai đoạn phát triển mới, giai đoạn Việt Nam đặt mục tiêu cao hơn: tăng trưởng nhanh, nhưng phải bền vững, hài hòa, có chất lượng.

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 được coi là nhiệm vụ trung tâm. Tại Phiên họp lần thứ nhất của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, diễn ra chiều 29/12/2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phải tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài theo Nghị quyết của Quốc hội; tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.

Chính sách tài khóa được xác định là trụ cột chủ lực, trong khi chính sách tiền tệ giữ vai trò hỗ trợ linh hoạt, mở nhưng có kiểm soát. Room tín dụng được điều hành theo diễn biến thị trường; tỉ giá, lãi suất được điều tiết nhằm hướng dòng vốn vào sản xuất, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao thay vì đầu cơ tài sản. Sàn giao dịch vàng quốc gia, trung tâm giao dịch bất động sản, thị trường carbon… sẽ được triển khai để tạo thêm cấu trúc thị trường minh bạch, giảm méo mó dòng vốn.

Giải ngân đầu tư công tiếp tục là động lực tăng trưởng lớn. Mục tiêu phân bổ vốn trung hạn dưới 3.000 dự án cho thấy quyết tâm siết lại đầu tư dàn trải, hướng vốn vào hạ tầng chiến lược, logistics, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.

Điểm nghẽn thể chế, nội lực doanh nghiệp

Dù bức tranh kinh tế năm 2025 đầy gam sáng, nhiều chuyên gia cảnh báo rằng thành công hiện nay vẫn dựa phần lớn vào khu vực FDI. Doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng trưởng chỉ 6–7%, thấp hơn mức tăng chung, cho thấy động cơ tăng trưởng nội sinh chưa thực sự mạnh.

Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Katolec Việt Nam (Khu công nghiệp Quang Minh, Hà Nội). Ảnh: Lê Nam

PGS.TS Trần Đình Thiên gọi đây là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Dòng tín dụng tăng, nhưng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu. Nhiều doanh nghiệp “khát vốn” trong khi tiền vẫn đọng lại trong hệ thống. Nếu không tháo gỡ nút thắt thể chế, khu vực tư nhân khó có thể vươn lên làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.

Thị trường đất đai còn nhiều méo mó, đầu cơ cao; khoảng 3.000 dự án đang vướng pháp lý với nguồn lực ước tính tới 6-7 triệu tỷ đồng bị “chôn” lại, đây là lãng phí lớn nếu không được tháo gỡ.

Thị trường tài chính, từ ngân hàng đến trái phiếu, chứng khoán, cần cải cách mạnh để tăng tính minh bạch và hiệu quả vận hành. Nguồn nhân lực vẫn nặng về gia công, thiếu kỹ năng số; giáo dục và đào tạo chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi sang kinh tế tri thức.

Bên cạnh ổn định kinh tế vĩ mô, mục tiêu năm 2026 hướng tới đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, giảm phụ thuộc vào một vài ngành hoặc một vài đối tác thương mại.

TS. Cấn Văn Lực cảnh báo rằng rủi ro năm 2026 sẽ đến nhiều từ bên ngoài, bảo hộ thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị khó lường, FDI có dấu hiệu chậm lại. Vì vậy, cần chủ động đàm phán để cân bằng thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, kích thích tiêu dùng và đầu tư nội địa.

Tăng trưởng không chỉ đến từ xuất khẩu, mà phải đến từ thị trường trong nước. Điều này đòi hỏi phát triển hệ sinh thái liên kết giữa tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ, thúc đẩy sản xuất trong nước, chuyển đổi xanh, nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm.

Việt Nam hiện được đánh giá là một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Á, với tốc độ tăng trưởng cao và mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế toàn cầu. GS Nguyễn Ðức Khương - Thành viên Hội đồng tư vấn quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhận định, ổn định kinh tế vĩ mô chính là “vũ khí” quan trọng nhất để củng cố niềm tin của nhà đầu tư, kích thích tiêu dùng trong nước và bảo đảm nền tảng cho sự phát triển dài hạn.

“Con người và công nghệ là hai trụ cột bền vững của tăng trưởng”, Giáo sư Nguyễn Đức Khương nhấn mạnh và cho rằng, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, đầu tư vào R&D không còn là khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để Việt Nam vươn lên nhóm nước phát triển.

Tăng trưởng bền vững, bài toán cân bằng giữa tốc độ và chất lượng

Câu hỏi kinh điển "ưu tiên tỉ giá, lạm phát hay tăng trưởng" không thể trả lời tách bạch. Việt Nam không thể đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô để chạy theo tăng trưởng nóng, nhưng cũng không thể duy trì ổn định một cách cứng nhắc, làm triệt tiêu động lực phát triển. Bài toán đặt ra là năng lực điều hành linh hoạt, mềm dẻo, dựa trên niềm tin và sức bật của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Mức tăng trưởng khoảng 8% của năm 2025 là một dấu mốc đáng ghi nhận, song năm 2026 mới là “bài thi” thực sự, đó là làm thế nào để tăng trưởng nhanh hơn nhưng vẫn giữ được nhịp ổn định, không chỉ gia tăng quy mô mà còn nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Thực tế cho thấy, nếu cải cách thể chế được thúc đẩy quyết liệt hơn, đầu tư công được giải ngân hiệu quả, các điểm nghẽn thị trường được tháo gỡ kịp thời, nền kinh tế hoàn toàn có khả năng hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Quan trọng hơn, tăng trưởng đó phải được xây dựng trên năng lực cạnh tranh quốc gia và sức mạnh nội sinh, thay vì phụ thuộc vào chu kỳ thị trường hay dòng vốn bên ngoài.

Theo ông Trần Đình Thiên, Việt Nam bước vào năm 2026 với một tâm thế mới: tự tin hơn nhờ nền tảng tích lũy, song cũng cần tỉnh táo trước những rủi ro hiện hữu. Các mục tiêu Chính phủ đề ra từ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, phát triển thị trường vốn, thúc đẩy đầu tư công, đến cải cách thể chế và nâng cao năng lực doanh nghiệp đều không dễ thực hiện. Tuy nhiên, nếu kiên định và triển khai hiệu quả, Việt Nam có cơ hội bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới, nhanh hơn nhưng bền vững hơn, dựa trên sức mạnh nội sinh của nền kinh tế.

Một thực tế đáng lưu ý là dù tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do và dành nhiều ưu đãi cho xuất khẩu, doanh nghiệp FDI vẫn khai thác tốt hơn các lợi thế này so với doanh nghiệp trong nước. Trong khi đó, các rào cản thể chế kéo dài đang làm suy yếu dần khu vực doanh nghiệp Việt, khiến năng lực nội sinh chưa được chuẩn bị đầy đủ để tham gia sâu vào “sân chơi lớn”.

Trong bối cảnh đó, việc triển khai Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn, hướng tới mục tiêu giúp doanh nghiệp Việt “vươn ra toàn cầu”, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì chỉ tập trung xử lý những khó khăn mang tính ngắn hạn.

Song song với đó, cải cách thể chế cần đi vào thực chất, đặc biệt là cơ chế trao quyền. Phân quyền không thể dừng ở hình thức, mà phải gắn với trách nhiệm giải trình, cơ chế giám sát rõ ràng và khả năng chủ động về nguồn lực. Khi thể chế được “mở khóa”, doanh nghiệp Việt sẽ có dư địa để phát triển. Từ đó, sản xuất, xuất khẩu và đổi mới sáng tạo mới thực sự hình thành năng lực cạnh tranh từ bên trong, nền tảng cốt lõi cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Việt Nam đã chứng minh khả năng ‘vượt sóng’. Chặng đường phía trước đòi hỏi bản lĩnh lớn hơn, trong đó, bản lĩnh đặt tăng trưởng nhanh nhưng bền vững làm kim chỉ nam.

Nguyễn Hạnh