Đóng

Nâng chất lượng đào tạo nhân lực ngành dầu khí

Các cơ sở đào tạo trong ngành dầu khí đẩy mạnh đổi mới đào tạo, ứng dụng công nghệ và gắn kết doanh nghiệp nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng chuyển dịch năng lượng.

Đổi mới đào tạo, bám sát nhu cầu nhân lực

Ngành dầu khí và năng lượng đang đứng trước những thay đổi lớn khi chuyển đổi số, tự động hóa và xu hướng phát triển năng lượng mới ngày càng tác động sâu rộng đến hoạt động sản xuất, vận hành. Điều này đặt ra yêu cầu đối với công tác đào tạo trong việc cung cấp kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời, chuẩn bị đội ngũ lao động có khả năng tiếp cận công nghệ mới, thích ứng với những thay đổi của thị trường và yêu cầu công việc trong tương lai.

Các cơ sở đào tạo trong ngành dầu khí chú trọng đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo, gắn lý thuyết với thực hành nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành dầu khí và năng lượng.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tạo cú hích cho các cơ sở đào tạo đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Với các đơn vị đào tạo nhân lực cho ngành dầu khí, yêu cầu này càng gắn chặt với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và quá trình chuyển dịch năng lượng của ngành.

Tại Trường Đại học Dầu khí Việt Nam (PVU), định hướng đào tạo và nghiên cứu đang chuyển từ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí truyền thống sang gắn kết chặt chẽ hơn với chuyển dịch năng lượng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nhu cầu thực tiễn. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Phan Minh Quốc Bình, Hiệu trưởng PVU cho biết, nhà trường đang cập nhật các nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, công nghệ mô phỏng và năng lượng mới vào chương trình đào tạo. Những ngành nền tảng như Kỹ thuật Dầu khí, Kỹ thuật Địa chất và Kỹ thuật Hóa học tiếp tục được phát triển theo hướng kết hợp kiến thức chuyên môn cốt lõi với các năng lực mới.

TS. Phan Minh Quốc Bình, Hiệu trưởng Trường Đại học Dầu khí Việt Nam.

Cụ thể, ngành Kỹ thuật Dầu khí tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn; ngành Kỹ thuật Địa chất mở rộng nội dung về địa nhiệt và khảo sát phục vụ điện gió; còn ngành Kỹ thuật Hóa học thì chú trọng hơn đến năng lượng tái tạo và phát triển bền vững.
“Các bài toán công nghệ từ doanh nghiệp cũng được nhà trường đưa vào bài giảng, giúp sinh viên tiếp cận sớm với những vấn đề thực tế của ngành”, Hiệu trưởng PVU chia sẻ.

Song song với đào tạo chính quy, PVU đẩy mạnh bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng cho người lao động. Trong năm 2025 và 7 tháng đầu năm 2026, Trung tâm Bồi dưỡng nâng cao của trường đã tổ chức 271 lớp với 7.990 lượt học viên, tập trung vào các chủ đề như AI trong dầu khí, OSDU, hydrogen và LNG. Đây là một trong những hướng giúp người lao động cập nhật kiến thức trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và yêu cầu sản xuất.

Sinh viên PVU thực hành trong phòng thí nghiệm, tăng cường năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ.

Ở lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Trường Cao đẳng Dầu khí Việt Nam (PVCollege) chú trọng đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp và yêu cầu cụ thể của từng vị trí việc làm. Theo ông Lương Quốc Kông, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Dầu khí Việt Nam, mục tiêu đào tạo của nhà trường vừa giúp người lao động thực hiện được công việc hiện tại vừa hình thành năng lực học hỏi, cập nhật và thích nghi với công nghệ, phương thức sản xuất mới.

Ông Lương Quốc Kông, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Dầu khí Việt Nam

"Triết lý đào tạo “Dạy để làm - Dạy theo nhu cầu - Dạy để thích nghi với thời đại” được cụ thể hóa thông qua việc tăng cường thực hành, thiết kế chương trình linh hoạt và chú trọng năng lực giải quyết vấn đề. Thay vì chỉ trang bị kiến thức cho một công việc cụ thể, nhà trường hướng đến khả năng tự học, học lại và nâng cấp kỹ năng trong suốt quá trình làm việc của người lao động", Phó Hiệu trưởng PVCollege khẳng định.

Đồng thời, ông Kông cho biết, nhà trường cũng đưa các mô hình mô phỏng động vào đào tạo kỹ thuật, tái hiện những quá trình công nghệ và tình huống vận hành từ hoạt động khoan ngoài khơi đến các nhà máy trên đất liền. Phương pháp này tạo điều kiện để người học rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống, tiếp cận môi trường gần với thực tế trước khi làm việc tại hiện trường.

Từng bước làm chủ công nghệ

Cùng với đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ số đang trở thành một hướng quan trọng trong hoạt động đào tạo của các cơ sở giáo dục ngành dầu khí.

Theo đó, AI, dữ liệu và công nghệ mô phỏng được ứng dụng trong đào tạo, nghiên cứu và quản trị tại Trường Đại học Dầu khí Việt Nam. Sinh viên được tiếp cận phương pháp số, địa thống kê, mô phỏng vỉa cùng các phần mềm chuyên ngành như Aspen, Matlab. Hệ thống học tập trực tuyến LMS, học liệu số và việc ứng dụng AI cũng góp phần đổi mới phương thức giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp cận tri thức.

Sinh viên PVCollege thực hành, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất và vận hành trong ngành dầu khí.

TS. Phan Minh Quốc Bình cho hay, yêu cầu đặt ra đối với nhà trường là đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với hoạt động sản xuất. Thay vì chỉ tập trung vào công bố khoa học, PVU hướng đến phát triển sáng chế, giải pháp hữu ích và sản phẩm có khả năng thương mại hóa, như hệ thống kiểm tra đường ống bằng Pig thông minh, màng thu hồi hơi xăng dầu, vật liệu aerogel, công nghệ tái chế nhựa thải và chuyển hóa sinh khối.

Để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, PVU tăng cường phối hợp với các đơn vị trong Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) ngay từ khâu xác định bài toán, xây dựng nhiệm vụ đến thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. “Doanh nghiệp cũng trực tiếp tham gia góp ý chương trình đào tạo, cung cấp tình huống thực tế và đặt hàng đồ án, luận văn. Cách tiếp cận này góp phần gắn kết đào tạo, nghiên cứu với yêu cầu vận hành và sản xuất”, TS. Phan Minh Quốc Bình nhấn mạnh.

Trong khi đó, PVCollege xác định chuyển đổi số không chỉ dừng ở số hóa bài giảng mà cần được triển khai trong toàn bộ quá trình đào tạo và quản trị. Hiện, 100% hoạt động quản lý của nhà trường được thực hiện trên các nền tảng số; nền tảng đào tạo trực tuyến phục vụ người lao động trong toàn Petrovietnam cũng đang được phát triển. Đến năm 2030, trường định hướng nâng cấp nền tảng này thành hệ thống quản trị tri thức của Tập đoàn, tạo điều kiện tích lũy, chia sẻ và tái sử dụng tri thức, kinh nghiệm trong toàn hệ thống.

Chuẩn bị nguồn nhân lực cho các dự án mới

Trong dòng chảy của khoa học công nghệ, chuyển đổi số, yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực không chỉ nằm ở các lĩnh vực dầu khí truyền thống mà được chú trọng, mở rộng sang những dự án năng lượng mới. Theo ông Lương Quốc Kông, Phó Hiệu trưởng PVCollege, trong 5 năm tới, nhà trường đặt mục tiêu chủ động chuẩn bị đội ngũ vận hành cho 100% các dự án mới thuộc phạm vi được giao, đặc biệt trong các lĩnh vực điện khí, LNG, điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân và hydro. Giai đoạn 2026 - 2030, nhà trường đặt mục tiêu đào tạo trực tiếp 120.000 lượt người và đạt 550.000 lượt khóa học trực tuyến hoàn thành.

Hoạt động nghiên cứu tại PVU được định hướng theo yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và chuyển giao công nghệ.

Cùng với đó, Trường Đại học Dầu khí Việt Nam dự kiến mở rộng các ngành đào tạo như Khoa học Máy tính định hướng dữ liệu và AI, Kỹ thuật Điện và Năng lượng tái tạo, Kỹ thuật Hạt nhân; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế, đầu tư cho các nhóm nghiên cứu và phát triển các khóa bồi dưỡng về chuyển dịch năng lượng, kỹ năng xanh.

Những định hướng này cho thấy, công tác phát triển nguồn nhân lực đang được các trường tiếp cận theo hướng kết hợp giữa nền tảng chuyên môn, kỹ năng thực hành, năng lực số và khả năng thích ứng. Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo thêm động lực để các cơ sở đào tạo đẩy nhanh quá trình đổi mới, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa định hướng thành chương trình đào tạo sát nhu cầu, công nghệ được ứng dụng thực chất và sự phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp.

Trong bối cảnh ngành dầu khí và năng lượng tiếp tục chuyển đổi, việc chuẩn bị nguồn nhân lực vừa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng trước mắt, đồng thời, bảo đảm đội ngũ lao động kế cận có thể tiếp nhận, làm chủ công nghệ và vận hành các dự án trong tương lai.

Thừa Ngọc