Đóng

Nắng nóng phá kỷ lục phụ tải lịch sử và kỳ tích bảo đảm điện hè 2026: Bài 4 - Thế trận đa chủ thể: sức mạnh tổng lực phía nguồn

Vượt đỉnh phụ tải lịch sử 58.103 MW giữa nắng nóng cực đoan, hệ thống điện Việt Nam chứng minh sức mạnh của thế trận nguồn điện đa chủ thể, điều phối thống nhất.

Một thế kỷ trước, giữa nước Nga đói kém và đổ nát sau nội chiến, V. I. Lê-nin nêu công thức nổi tiếng: chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc. Kế hoạch GOELRO ra đời ngay sau đó để lại một bài học bất biến: chỉ Nhà nước mới đủ tầm huy động tổng lực của cả nền kinh tế cho một hạ tầng chiến lược. Điện không phải món hàng để phó mặc cho từng nhà sản xuất riêng lẻ tự lo.

Mùa hè 2026 của Việt Nam là một minh chứng sinh động cho nguyên lý ấy. Để bảo đảm đủ điện trong những ngày phụ tải lập đỉnh lịch sử, không một doanh nghiệp đơn lẻ nào, dù sở hữu quy mô lớn đến đâu, có thể tự mình gánh vác nhiệm vụ.

Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị đã kế thừa và hiện đại hóa nguyên lý GOELRO khi khẳng định "hạ tầng năng lượng chiến lược phải do Nhà nước kiểm soát" và yêu cầu "hiện đại hóa hệ thống điều độ điện", qua đó, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Thực tiễn điều hành trong mùa hè 2026 cho thấy những định hướng ấy không chỉ dừng lại ở tầm chiến lược, mà đã được hiện thực hóa thành năng lực vận hành cụ thể, giúp hệ thống điện quốc gia đứng vững trước thử thách của đợt nắng nóng khắc nghiệt nhất trong nhiều năm qua.

Ở trung tâm của toàn bộ thế trận là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), với vai trò là “nhạc trưởng” EVN không chỉ vận hành các nguồn điện thuộc phạm vi quản lý mà còn tổ chức đồng bộ các điều kiện bảo đảm cung ứng điện cho toàn hệ thống. Từ việc duy trì tồn kho than ở mức an toàn, bảo đảm nguồn khí và dầu sẵn sàng phát điện, đến nâng cao độ khả dụng của từng tổ máy và điều tiết linh hoạt các hồ thủy điện theo yêu cầu của đơn vị điều độ, mọi mắt xích đều hướng tới mục tiêu chung: huy động tối đa nguồn lực vào đúng thời điểm hệ thống cần nhất. Các hồ thủy điện được tính toán kỹ lưỡng để tích nước khi có điều kiện và dồn công suất cho các giờ phụ tải đỉnh, qua đó phát huy vai trò nguồn điện linh hoạt của hệ thống.

Đây chính là nghệ thuật điều phối bởi không phải nguồn điện rẻ nhất luôn được huy động, mà là nguồn điện phù hợp nhất cho mục tiêu bảo đảm an ninh cung ứng trong từng thời điểm. Theo đó, EVN phối hợp với PVGAS linh hoạt chuyển đổi giữa khí nội địa, LNG và dầu để duy trì công suất khả dụng ở mức cao nhất. Khi nhu cầu điện vượt xa các kịch bản thông thường, những tổ máy chạy dầu có giá thành cao như Ô Môn I, Thủ Đức hay Cần Thơ vẫn được đưa vào vận hành như một "lực lượng dự bị chiến lược". Đó là lựa chọn mang tính an ninh hệ thống hơn là bài toán lợi nhuận đơn thuần, thể hiện năng lực điều phối tập trung và khả năng huy động tổng lực của ngành điện Việt Nam trong những thời điểm áp lực nhất. Đây là bàn tay điều tiết tập trung mà một thị trường phân tán thuần túy khó lòng làm được trong vài chục giờ căng thẳng.

Hơn một thế kỷ trước, Winston Churchill đã nêu một chân lý về an ninh năng lượng đến nay vẫn nguyên giá trị: "An toàn và chắc chắn trong dầu lửa nằm ở sự đa dạng, và chỉ đa dạng mà thôi" (phát biểu trước Nghị viện Anh, 1913, dẫn trong Daniel Yergin, The Prize: The Epic Quest for Oil, Money, and Power). Thế trận đa nguồn, đa chủ thể của Việt Nam, với than, thủy điện, khí, LNG và dầu bổ trợ nhau theo từng giờ, chính là hiện thân hiện đại của nguyên lý đa dạng ấy.

Giữ vai trò công suất nền là các nhà máy nhiệt điện than. Ở phía Bắc, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), công suất 1.200 MW, lớn nhất khu vực đồng bằng sông Hồng, trong đợt cao điểm 23 đến 28/5 đã chạy cả hai tổ máy ở mức 400 MW và 580 MW, tương đương khoảng 81% công suất lắp. Mục tiêu cả năm 2026 của nhà máy là khoảng 6.451 triệu kWh điện thương phẩm, với suất hao nhiệt quý I giảm 1,8% so với cùng kỳ, một chỉ số hiệu quả quan trọng.

Trong khi đó, tại Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1, các tổ máy duy trì vận hành ổn định với công suất phát trung bình khoảng 91%, đáp ứng yêu cầu huy động cao của hệ thống. Đơn vị bố trí lực lượng kỹ thuật trực 24/24 giờ, tăng cường kiểm tra thiết bị và triển khai hệ thống guồng sục khí tại hồ điều hòa nhằm cải thiện khả năng làm mát nước tuần hoàn trong điều kiện nắng nóng kéo dài.

Còn tại Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh, để đảm bảo cung cấp điện cho nền kinh tế và đời sống của người dân, đơn vị đã vận hành 4 tổ máy với tổng công suất 1.200 MW. Các tổ máy duy trì khả dụng trong dải từ 230–300 MW/tổ máy, bảo đảm đáp ứng yêu cầu huy động của hệ thống trong mùa khô.

Tương tự như vậy, các nhà máy nhiệt điện của Tổng công ty Điện lực TKV trong giai đoạn cao điểm mùa khô, độ khả dụng của các nhà máy đều duy trì trên 90%, cơ bản đáp ứng yêu cầu huy động của NSMO. Tổng công ty Điện lực TKV đã yêu cầu các đơn vị tập trung cao độ cho công tác vận hành, bảo đảm trạng thái sẵn sàng cao nhất của các tổ máy phát điện trong những ngày phụ tải tăng đột biến.

Ở phía Nam, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân (thuộc EVNGENCO3) dự kiến phát thêm khoảng 2,93 tỷ kWh trong cao điểm mùa khô từ tháng 4 đến tháng 7, sau khi đã phát 1,719 tỷ kWh trong quý I. Nhà máy duy trì dự trữ khoảng 300.000 tấn than, với kế hoạch nhập 5,32 triệu tấn cho cả năm. Sự chủ động về nhiên liệu từ trước mùa khô chính là khác biệt giữa "chữa cháy" và "phòng ngừa".

Trước đó, tại hội nghị đảm bảo cung cấp điện trong cao điểm mùa khô 2026 do Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng chủ trì vào chiều ngày 26/5 tại Hà Nội, ông Phan Tử Giang – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết, toàn bộ các nhà máy điện của tập đoàn vẫn đang vận hành theo đúng điều độ hệ thống, đồng thời duy trì trạng thái sẵn sàng cao cả về kỹ thuật và nhiên liệu nhằm góp phần cùng ngành điện bảo đảm cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng năm 2026.

Trong khi đó, Tập đoàn Công nghiệp – Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), ông Phan Xuân Thủy – Phó Tổng giám đốc khẳng định: Hiện nay, độ khả dụng của các nhà máy nhiệt điện thuộc tập đoàn đều duy trì trên 90%, cơ bản đáp ứng yêu cầu huy động của NSMO.

TKV cho biết đang chỉ đạo các đơn vị tập trung cao độ cho công tác vận hành trong các tháng cao điểm mùa khô nhằm duy trì trạng thái sẵn sàng cao nhất của các tổ máy phát điện. Song song với nhiệm vụ sản xuất điện, tập đoàn cũng khẳng định bảo đảm đủ nguồn than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện theo các hợp đồng đã ký kết. Theo TKV, đến nay các nhà máy điện chưa có phản ánh nào liên quan đến thiếu hụt nguồn than cung ứng từ tập đoàn

Nếu nhiệt điện than là nền, thì điện khí LNG là trụ cột linh hoạt mới của thế trận. Tổ hợp Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 của Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power), tổng vốn đầu tư khoảng 1,4 tỷ USD, công suất thiết kế trên 9 tỷ kWh/năm, là dự án điện khí LNG tỷ USD đầu tiên của Việt Nam đi vào vận hành. Ngay quý vận hành đầy đủ đầu tiên, tổ hợp này đã đóng góp khoảng 874 triệu kWh.

Sức mạnh của trụ cột điện khí không chỉ nằm ở công suất phát điện, mà còn ở khả năng bảo đảm nguồn nhiên liệu cho vận hành liên tục trong những thời điểm hệ thống chịu áp lực lớn nhất. Đến cuối tháng 4/2026, Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PVPower) đã hoàn tất thu xếp khoảng 9,6 triệu MMBTU LNG, đủ đáp ứng nhu cầu vận hành trong giai đoạn đầu mùa khô, đồng thời triển khai kế hoạch mua bổ sung khoảng 24,8 triệu MMBTU để chuẩn bị cho cao điểm phụ tải từ tháng 6 đến hết năm. Đồng hành phía sau là Tổng công ty Khí Việt Nam (PVGAS) với các hợp đồng cung cấp LNG dài hạn cho các nhà máy Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4, cùng cơ chế hợp đồng sai khác và cam kết sản lượng tối thiểu, góp phần giảm thiểu rủi ro biến động thị trường, duy trì hiệu quả tài chính ngay cả khi giá LNG thế giới có thời điểm vượt ngưỡng 19 USD/MMBTU. Nhờ nền tảng đó, cụm nguồn điện khí LNG đã trở thành một lực lượng quan trọng của hệ thống điện quốc gia, đóng góp khoảng 3.034 MW công suất trong các thời điểm phụ tải cao điểm.

Có đủ nguồn nhưng không tải được điện tới nơi cần thì thế trận vẫn vỡ. Đó là lý do Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) giữ vai trò mạch máu. Công trình mang tính bước ngoặt là đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Phố Nối, dài 519 km qua 9 tỉnh, nâng năng lực truyền tải từ Trung ra Bắc thêm khoảng 2.500 MW, đúng hướng "van xả" cho miền Bắc, nơi phụ tải tăng nóng nhất; cùng với đó là đường dây 500kV Lào Cai – Vĩnh Yên với khả năng mang tải khoảng 3.000 MW, đường dây được xem là một "xa lộ điện" mới của khu vực Tây Bắc. Công trình không chỉ giải tỏa công suất các nguồn thủy điện lớn mà còn tạo dư địa cho việc nhập khẩu điện, tăng khả năng dự phòng và nâng cao sức chống chịu của hệ thống điện miền Bắc trong các giai đoạn phụ tải lập đỉnh.

Trước và trong cao điểm, EVNNPT tăng tốc củng cố lưới: lắp tụ bù ngang tại 16 trạm biến áp, nâng công suất trạm biến áp 500kV Hòa Bình lên 1.800 MVA (ngày 29/4/2026), bổ sung máy biến áp tại trạm 220kV Hà Đông, đảo chuyển thiết bị tại trạm Thành Công để tăng độ tin cậy cho Thủ đô. Lực lượng vận hành tăng cường soi phát nhiệt, theo dõi nhiệt độ thiết bị, túc trực các vị trí hành lang an toàn. Sự chuẩn bị tỉ mỉ ấy là lý do lưới không gục giữa lúc dòng công suất kỷ lục chạy qua.

Cần nhấn mạnh: nghẽn lưới mới là điểm gãy phổ biến nhất của các hệ thống điện trong nắng nóng, chứ không phải thiếu nguồn. Mùa hè 2025, Italy phải cắt điện vì cáp ngầm quá nhiệt; ở nhiều nước, lưới phân phối và hành lang truyền tải tắc nghẽn gây mất điện cục bộ ngay khi tổng nguồn vẫn đủ. Việc Việt Nam khánh thành đường dây 500kV mạch 3, và đường dây 500kV Lào Cai – Vĩnh Yên trước mùa cao điểm, thay vì chạy theo sự cố, chính là tư duy gỡ nghẽn từ xa mà nhiều nền điện phải trả giá mới học được.

Nếu các nhà máy điện là những "binh chủng" trên mặt trận cung ứng điện, thì NSMO chính là sở chỉ huy trung tâm của toàn bộ chiến dịch. Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO) trong những ngày cao điểm nắng nóng không chỉ thực hiện nhiệm vụ huy động tối ưu các nguồn điện mà còn triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật chuyên sâu nhằm nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống. Trong đó, đơn vị đã điều chỉnh phương thức huy động các nhà máy thủy điện nhỏ khu vực miền Bắc giai đoạn từ 21/5 đến 30/6 theo hướng tập trung công suất vào các khung giờ phụ tải đỉnh; chủ động đưa các tổ máy chạy dầu dự phòng công suất lớn vào trạng thái sẵn sàng huy động; tối ưu phương thức truyền tải trên lưới điện liên vùng; đồng thời khai thác hiệu quả nguồn điện nhập khẩu từ Lào và Trung Quốc để tăng cường dự phòng cho hệ thống.

Toàn bộ quá trình vận hành được đặt trên nền tảng giám sát và điều khiển số theo thời gian thực. Từ hệ thống SCADA, các công cụ đánh giá an ninh hệ thống trực tuyến, tính toán giới hạn truyền tải động theo thời gian thực đến các mô hình phân tích ổn định điện áp, mọi diễn biến của hệ thống đều được theo dõi, phân tích và cập nhật liên tục từng giây. Chính năng lực giám sát và dự báo này tạo nên ranh giới giữa một sự cố cục bộ có thể kiểm soát và nguy cơ lan truyền thành sự cố diện rộng.

Việc NSMO công khai bản tin vận hành theo ngày, tuần, tháng và dữ liệu phụ tải từng vùng còn cho thấy một phương thức điều hành hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu, nơi các quyết định vận hành được đưa ra trên cơ sở phân tích khoa học và thông tin thời gian thực, thay vì phụ thuộc vào kinh nghiệm hay nhận định cảm tính.

Việc tách chức năng điều độ hệ thống điện và vận hành thị trường điện thành một đơn vị độc lập, trung lập với các chủ thể phát điện đã đưa Việt Nam tiếp cận mô hình quản trị mà nhiều nền điện lớn trên thế giới đang áp dụng. Đó là mô hình của Grid Controller of India Limited (tiền thân là POSOCO) tại Ấn Độ, Operador Nacional do Sistema Elétrico của Brazil hay các tổ chức vận hành hệ thống độc lập (ISO) tại Mỹ. Mục tiêu chung của các mô hình này là bảo đảm mọi quyết định điều độ được thực hiện trên cơ sở an toàn hệ thống và hiệu quả vận hành, thay vì bị chi phối bởi lợi ích của bất kỳ đơn vị phát điện nào.

Điều đáng chú ý là Việt Nam đã hoàn thành bước chuyển đổi thể chế quan trọng này trong thời gian tương đối ngắn và ngay lập tức đưa mô hình mới vào thực tiễn vận hành trong bối cảnh hệ thống phải đối mặt với đợt nắng nóng khắc nghiệt nhất nhiều năm qua. Việc hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn khi phụ tải liên tiếp lập đỉnh đã trở thành phép thử thực tế đầu tiên, đồng thời cho thấy hiệu quả của một mô hình điều độ hiện đại, độc lập và dựa trên dữ liệu.

Cách tổ chức phía nguồn của Việt Nam chỉ lộ rõ giá trị khi đặt cạnh các nền kinh tế có đặc thù gần với mình: quy mô đang phát triển, nhu cầu điện tăng nóng, vai trò nhà nước đậm nét trong khâu phát và truyền tải. Mùa hè 2024 đến 2026, hầu hết các nước ấy đều bị cùng một cơn nắng nóng cực đoan thử thách, nhưng kết cục lại rất khác nhau, và sự khác nhau ấy phần lớn nằm ở chất lượng phối hợp phía nguồn.

Bức tranh đối chiếu ấy cho thấy ba điều. Thứ nhất, sở hữu nhà nước không tự động tạo ra an ninh cung ứng. Nam Phi có một Eskom độc quyền nhà nước, nắm gần như toàn bộ khâu phát, nhưng vì thiếu phối hợp đầu tư - bảo trì - nhiên liệu nên đã rơi vào cắt điện luân phiên triền miên. Việt Nam có cùng đặc điểm nhà nước giữ vai chủ đạo, nhưng khác ở chất phối hợp: từng tập đoàn được điều tiết khớp nhau theo giờ, nhiên liệu được chốt từ trước mùa khô. Vai trò chủ đạo của Nhà nước chỉ phát huy khi đi cùng năng lực điều phối thực chất.

Thứ hai, ngay cả khi giữ được lưới, nhiều nước tương đồng vẫn phải mất điện cục bộ. Ấn Độ, nền kinh tế gần Việt Nam nhất về tốc độ tăng nhu cầu, lập đỉnh 256 GW chỉ ít tuần trước Việt Nam, nhưng vẫn ghi nhận mất điện ở một số bang do nghẽn lưới phân phối và than bị đẩy tới hạn linh hoạt. Việt Nam vượt đỉnh mà không một ngày tiết giảm là một sự khác biệt đáng kể.

Thứ ba, tư duy liên mùa của Việt Nam trùng với chuẩn quản trị tiên tiến. Việc điều chỉnh phương thức huy động các nhà máy thủy điện nhỏ theo hướng tập trung phát điện vào các khung giờ phụ tải đỉnh, đồng thời chủ động tích nước tại các hồ chứa để bảo đảm nguồn cho cả mùa khô, phản ánh tư duy vận hành tối ưu tài nguyên nước ở quy mô hệ thống. Đây cũng là nguyên lý mà Operador Nacional do Sistema Elétrico của Brazil áp dụng trong công tác điều độ, khi cân bằng giữa lợi ích trước mắt và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng trong trung và dài hạn thông qua các mô hình tối ưu hóa thủy – nhiệt.

Dù quy mô và điều kiện hệ thống có khác biệt, cách tiếp cận của Việt Nam trong mùa hè 2026 cho thấy sự tương đồng về tư duy quản trị: không chỉ giải quyết nhu cầu của một ngày hay một tuần, mà tính toán đồng thời cho cả mùa khô, bảo đảm sử dụng hiệu quả từng mét khối nước và từng MW công suất khả dụng. Đó là dấu hiệu cho thấy trình độ điều hành hệ thống điện đang từng bước tiệm cận các thông lệ quản trị tiên tiến trên thế giới.

Đối chiếu sòng phẳng, thế trận phía nguồn của Việt Nam có ba ưu điểm nổi bật. Một là tốc độ ra quyết định và điều tiết tập trung: trong vài chục giờ căng thẳng, một bàn tay điều phối có thể đồng thời chuyển đổi khí - LNG - dầu, đẩy nhanh tổ máy mới, huy động nguồn dầu đắt đỏ, điều mà một thị trường phân tán thuần túy khó làm kịp. Hai là kỷ luật nhiên liệu từ sớm: than tồn kho trên kế hoạch, LNG chốt hợp đồng dài hạn, là tấm đệm mà Ấn Độ hay Nam Phi từng thiếu. Ba là tư duy liên mùa, quản trị nước hồ như quản trị rủi ro dài hạn.

Nhưng bản lĩnh thật sự là dám nhìn thẳng vào giới hạn. So với các "người khổng lồ công cụ", kho công cụ phía nguồn của Việt Nam vẫn còn mỏng. Pin lưu trữ còn rất nhỏ: hệ thống BESS đầu tiên ở Hà Nội mới khoảng 50 MW dự kiến cuối tháng 6/2026 và 220 MW kế tiếp, trong khi riêng bang Texas đã có khoảng 15.700 MW pin để hạ đỉnh.

Cùng với đó, việc phải huy động nguồn dầu giá cao (Ô Môn I, Thủ Đức, Cần Thơ) cho thấy hệ thống còn thiếu lớp công suất linh hoạt rẻ hơn. Cơ cấu vẫn nặng nhiệt điện than (khoảng 54% ngày cao điểm), đặt ra bài toán cân bằng giữa an ninh cung ứng và cam kết chuyển dịch năng lượng. Và các cơ chế thị trường như mua bán điện trực tiếp (DPPA), điện mặt trời mái nhà, dịch vụ phụ trợ mới đang được khơi thông, chưa thành lớp đệm thường trực.

Nhìn thẳng vào những giới hạn ấy không làm mờ kỳ tích, mà chỉ rõ chương trình hành động kế tiếp: chuyển dần từ việc bù đắp bằng nghệ thuật điều hành sang củng cố bằng cả công cụ hiện đại, để thế trận bền vững hơn chứ không chỉ trụ vững trong một mùa.

Phép so sánh thuyết phục nhất lại nằm ở chính Việt Nam của những mùa hè trước. Mùa hè 2023, miền Bắc từng đối mặt với tình trạng thiếu điện nghiêm trọng khi nhiều hồ thủy điện cạn nước, một số nguồn nhiệt điện gặp khó khăn về nhiên liệu và hệ thống phải chịu áp lực lớn từ nhu cầu phụ tải tăng cao. Những hạn chế về khả năng phối hợp giữa nguồn điện, nhiên liệu và lưới truyền tải khi đó đã bộc lộ rõ những thách thức của công tác bảo đảm điện.

Chỉ 3 năm sau, bức tranh đã khác, chỉ trong ba ngày từ 24 đến 26/5/2026, hệ thống điện quốc gia liên tiếp xác lập các mức phụ tải đỉnh mới, từ 48.729 MW lên 57.120 MW và đạt kỷ lục 58.103 MW. Riêng miền Bắc ghi nhận công suất cực đại 29.716 MW, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước và vượt xa mức kỷ lục 28.187 MW từng thiết lập vào ngày 4/8/2025. Dù áp lực phụ tải lớn hơn rất nhiều, hệ thống vẫn được vận hành an toàn, ổn định và không phải áp dụng biện pháp cắt điện luân phiên. Khoảng cách giữa hai mùa hè ấy phản ánh sự trưởng thành đáng kể về năng lực quản trị, khả năng huy động nguồn lực và trình độ điều hành của hệ thống điện quốc gia.

Bước nhảy ấy không đến từ may rủi, mà từ những bổ sung phía nguồn rất cụ thể mà năm 2023 chưa có. Đường dây 500kV mạch 3 chỉ được đóng điện từ giữa năm 2024, bổ sung khoảng 2.500 MW năng lực tải từ Trung ra Bắc trong khi đường dây 500kV Lào Cai – Vĩnh Yên tiếp tục tăng cường năng lực liên kết lưới điện khu vực Tây Bắc và hỗ trợ nhập khẩu điện. Cùng với đó, các nguồn điện khí LNG mới, đặc biệt là tổ hợp Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4, bắt đầu tham gia vận hành trong năm 2026, bổ sung cho hệ thống hơn 3.000 MW nguồn điện linh hoạt và chất lượng cao. Đồng thời, mô hình điều độ được tổ chức lại với NSMO hoạt động theo cơ chế độc lập, trung lập hơn trong vận hành hệ thống và thị trường điện; các công cụ giám sát, dự báo và phân tích thời gian thực tiếp tục được hoàn thiện. Song song với đó, công tác bảo đảm nhiên liệu cho các nguồn điện được chuẩn bị từ sớm, với kỷ luật vận hành và dự phòng được siết chặt ngay từ trước mùa khô. Kết quả này đã minh chứng, trước cùng một thách thức là nắng nóng cực đoan và phụ tải tăng vọt, hệ thống điện Việt Nam năm 2026 đã có trong tay một thế trận nguồn điện vững chắc hơn, linh hoạt hơn và được phối hợp đồng bộ hơn nhiều so với ba năm trước.

Điều đáng nói nhất không nằm ở từng con số, mà ở khả năng gắn kết chúng. Một nguồn LNG mạnh, một nhà máy than lớn, một đường dây hiện đại, nếu rời rạc, không tạo nên an ninh cung ứng. Chỉ khi EVN, Petrovietnam, PVPower, PVGas, EVNNPT và NSMO cùng vận hành như những bộ phận của một cơ thể, dưới sự điều tiết tập trung của Nhà nước và chỉ đạo xuyên suốt của Bộ Công Thương, thế trận mới phát huy sức mạnh tổng lực.

Đó cũng là câu trả lời đanh thép cho những luận điệu xuyên tạc về "khủng hoảng điện" hay "điều hành giật cục". Một hệ thống khủng hoảng, thiếu nhất quán thì không thể điều phối hàng chục nghìn megawatt từ nhiều tập đoàn, trải dài ba miền, ăn khớp tới từng giờ trong suốt một đợt nắng nóng lịch sử. Năng lực phối hợp đa chủ thể ấy không tự nhiên mà có, cũng không phải may rủi, mà là thành quả của một thể chế điều hành đã trưởng thành. Trong đó có cả tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung mà Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung của Bộ Chính trị đã chủ động gỡ từng nút thắt cơ chế, quyết đoán huy động cả nguồn đắt để giữ bằng được nguồn sáng cho hơn 100 triệu dân.

Thế trận ấy chưa dừng lại, cao điểm tự nhiên của miền Bắc trong tháng 6 và 7 vẫn còn ở phía trước, và mốc 58.103 MW hoàn toàn có thể bị vượt. Giữ vững và nâng cấp thế trận đa chủ thể, đó sẽ là phép thử tiếp theo và cũng là cách biến từng kỳ tích đơn lẻ thành một năng lực bền vững cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lâm Vỹ Sơn - Thu Hường - Hồng Thịnh