(Công Thương) - Giai đoạn 2026 - 2045, hàng loạt dự án điện gió, điện hạt nhân, lưới điện, đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao và khai thác, chế biến khoáng sản dự kiến mở ra thị trường lớn cho ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, sau hơn 7 năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 theo Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018, khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư và năng lực thiết kế, chế tạo, làm chủ công nghệ trong nước vẫn là một trong những vấn đề lớn cần giải quyết.
Vấn đề đặt ra cho Chiến lược giai đoạn mới là chuyển nhu cầu đó thành danh mục đơn hàng lâu dài, gắn phát triển thị trường với nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực doanh nghiệp. Bởi nếu doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục đứng ngoài những khâu có giá trị cao, thị trường càng mở rộng thì nguy cơ phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài càng lớn.
Từ hơn sáu thập niên trước, Đảng ta đã xác định phát triển công nghiệp nặng là nền tảng để xây dựng năng lực sản xuất và trang bị kỹ thuật cho nền kinh tế. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III tháng 6/1962, yêu cầu phát triển công nghiệp nặng được đặt trong mối quan hệ với nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và nhiệm vụ từng bước xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước. Tư tưởng xuyên suốt là phát triển năng lực công nghiệp trong nước để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, từng bước nâng cao khả năng tự chủ về máy móc, thiết bị và công nghệ.
Hơn 60 năm sau, yêu cầu này được đặt ra trong bối cảnh mới. Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định chủ trương thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng cường kết nối giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước, đồng thời nhấn mạnh: "Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng".
Trung ương xác định nhiệm vụ tập trung đầu tư các công trình hạ tầng trọng điểm, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế và đường sắt đô thị. Những công trình này mở ra nhu cầu lớn về kết cấu thép, máy móc, thiết bị điện, hệ thống điều khiển, phương tiện vận tải và các dịch vụ kỹ thuật.
Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp cơ khí Việt Nam sẽ tham gia ở khâu nào, đảm nhận được bao nhiêu giá trị và tích lũy thêm những năng lực công nghệ gì sau mỗi dự án? Khi thị trường trong nước được xác định là "điểm tựa" cho tăng trưởng, chính những công trình đầu tư quy mô lớn phải trở thành cơ hội để ngành cơ khí nâng cao năng lực sản xuất, chế tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp.
Từ giá trị sản xuất toàn ngành đạt 3.225,5 nghìn tỷ đồng năm 2025, Viện Nghiên cứu Cơ khí, Bộ Công Thương đã xây dựng 3 kịch bản tăng trưởng đến năm 2045, gồm kịch bản thận trọng 6,5%/năm, kịch bản mục tiêu 10%/năm và kịch bản đột phá 12%/năm.
Theo đó, nếu duy trì tốc độ tăng trưởng 10%/năm trong suốt giai đoạn 2026 - 2045, giá trị sản xuất ngành cơ khí có thể đạt khoảng 21.699,6 nghìn tỷ đồng vào năm 2045, gấp 6,7 lần năm 2025. Ở kịch bản thận trọng 6,5%/năm, quy mô tương ứng khoảng 11.365,5 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, kịch bản tăng trưởng 12%/năm đưa giá trị sản xuất lên khoảng 31.114,1 nghìn tỷ đồng.
(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045)
Tuy nhiên, các con số trên được tính toán theo giả định tăng trưởng cố định, phản ánh quy mô giá trị sản xuất danh nghĩa tại từng thời điểm, chưa tính đến đầy đủ biến động giá cả, cơ cấu sản xuất, năng suất lao động và phần giá trị gia tăng được tạo ra trong nước. Vì vậy, tăng trưởng về quy mô sản xuất chưa đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng về năng lực tự chủ công nghệ hay đóng góp vào GDP.
Dư địa phát triển của ngành cơ khí còn đến từ nhu cầu đầu tư trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông, khai khoáng và sản xuất công nghiệp. Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đã tổng hợp các kịch bản nhu cầu tại 17 lĩnh vực, bao gồm điện gió, điện hạt nhân, lưới điện, đường sắt, cơ khí dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, máy nông nghiệp, robot và máy công cụ.
Trong đó, dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam mở ra nhu cầu lớn về máy móc, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật. Theo Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án, tuyến đường sắt có chiều dài khoảng 1.541 km với sơ bộ tổng mức đầu tư 1.713.548 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng mức đầu tư bao gồm nhiều cấu phần chi phí, không thể đồng nhất với giá trị thiết bị cơ khí hoặc quy mô đơn hàng mà doanh nghiệp Việt Nam có khả năng đảm nhận.
Các dự án điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân, lưới điện truyền tải, khai thác và chế biến khoáng sản cũng mở ra nhu cầu lớn về thiết bị công nghiệp. Song, để xác định quy mô thị trường thực sự dành cho ngành cơ khí trong nước, cần bóc tách từng nhóm sản phẩm, yêu cầu công nghệ, tỷ trọng thiết bị nhập khẩu và khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam.
Khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư và năng lực cung ứng chính là vấn đề chiến lược, một dự án có quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng chưa chắc tạo ra thị trường tương ứng cho doanh nghiệp trong nước nếu các gói thầu thiết bị được tổ chức theo cách mà doanh nghiệp Việt Nam khó tham gia hoặc chưa đủ năng lực đáp ứng.
Trong báo cáo đánh giá tác động chính sách, ThS. Đinh Viết Hải - Viện Nghiên cứu Cơ khí lưu ý, các kịch bản giá trị sản xuất mới phản ánh quy mô dự kiến theo giả định tăng trưởng, chưa phải lợi ích ròng của Chiến lược hay phần đóng góp trực tiếp vào GDP. Tương tự, tổng vốn đầu tư tham chiếu của các dự án không thể mặc nhiên được coi là thị trường dành cho doanh nghiệp cơ khí trong nước.
Quy mô đầu tư lớn mới chỉ tạo ra dư địa phát triển, khả năng chuyển nhu cầu thành đơn hàng và năng lực sản xuất phụ thuộc vào cách tổ chức thị trường, cơ chế lựa chọn nhà thầu và trình độ thiết kế, chế tạo, tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế kết nối nhu cầu đầu tư với phát triển nhà cung cấp trong nước, những công trình quy mô lớn khó trở thành động lực nâng cao năng lực tự chủ của ngành cơ khí.
Khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư lớn của nền kinh tế và khả năng tham gia của doanh nghiệp cơ khí trong nước tiếp tục là một trong những điểm nghẽn sau hơn 7 năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam theo Quyết định số 319/QĐ-TTg. TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí đánh giá ngành cơ khí vẫn chưa tạo được thị trường đủ lớn và ổn định để doanh nghiệp đầu tư dài hạn, nâng cao năng lực sản xuất và làm chủ công nghệ.
"Nhu cầu đầu tư của nền kinh tế rất lớn nhưng không được chuyển hóa thành danh mục đơn hàng dài hạn, tỷ lệ nội địa hóa và nhiệm vụ làm chủ công nghệ cụ thể", ông Vũ Văn Khoa thông tin.
Hệ quả là doanh nghiệp thiếu cơ sở để đầu tư dây chuyền, phát triển nhân lực và nghiên cứu công nghệ dài hạn. Trong khi đó, nhiều dự án công nghiệp lớn đòi hỏi nhà thầu có kinh nghiệm thực hiện các công trình tương tự, năng lực tích hợp thiết bị và hồ sơ vận hành thực tế. Chưa có đơn hàng đầu tiên, doanh nghiệp khó tích lũy kinh nghiệm; thiếu kinh nghiệm, cơ hội tham gia các dự án tiếp theo lại thu hẹp. Vòng luẩn quẩn ấy khiến doanh nghiệp cơ khí Việt Nam gặp bất lợi khi cạnh tranh với những nhà cung cấp quốc tế đã có công nghệ, năng lực tổng thầu và hệ thống khách hàng ổn định.
Thực tế, Nhà nước đã sớm ban hành những chính sách nhằm tạo thị trường cho sản phẩm cơ khí trong nước. Chỉ thị số 494/CT-TTg ngày 20/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án sử dụng vốn nhà nước yêu cầu phân chia gói thầu có quy mô hợp lý, phù hợp với năng lực nhà thầu trong nước nhằm tăng cơ hội tham gia và cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam.
Tiếp đó, Chỉ thị số 734/CT-TTg ngày 17/5/2011 về chấn chỉnh công tác quản lý đối với các gói thầu EPC yêu cầu chủ đầu tư cân nhắc việc phân chia gói thầu, trường hợp có thể thì tách thành các gói tư vấn thiết kế, cung cấp thiết bị và xây lắp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia đấu thầu, thực hiện dự án.
Đến ngày 29/11/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1791/QĐ-TTg phê duyệt cơ chế thực hiện thí điểm thiết kế, chế tạo trong nước thiết bị các nhà máy nhiệt điện trong giai đoạn 2012 - 2025 hướng tới 3 dự án Quảng Trạch 1, Sông Hậu 1 và Quỳnh Lập 1, với mục tiêu từng bước nâng tỷ lệ thiết kế, chế tạo và dịch vụ kỹ thuật do doanh nghiệp trong nước thực hiện.
Theo báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2035, tầm nhìn 2045, các doanh nghiệp trong nước đã tự chủ thiết kế, tích hợp ít nhất 7 hệ thống thiết bị phụ cho nhà máy nhiệt điện, gồm cấp than, thải tro xỉ, lọc bụi tĩnh điện, nước làm mát tuần hoàn và một số hệ thống kỹ thuật khác, ước tính các hạng mục này chiếm khoảng 30% giá trị thiết bị dự án. Tuy nhiên, việc triển khai Quyết định số 1791/QĐ-TTg vẫn còn những hạn chế và kết quả cụ thể giữa các dự án chưa đồng đều.
Những cơ chế trên cho thấy chủ trương phát huy năng lực cơ khí trong nước đã được đặt ra từ nhiều năm trước. Song, các chính sách chủ yếu triển khai theo từng chương trình, từng nhóm dự án, chưa hình thành được hệ thống thông tin nhu cầu thiết bị và danh mục đơn hàng dài hạn có khả năng dẫn dắt đầu tư trên phạm vi toàn ngành.
Vấn đề không còn dừng ở việc xác định cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, mà nằm ở khả năng chuyển định hướng thành thị trường, hợp đồng và năng lực công nghệ có thể đo lường.
Cơ khí thủy công là minh chứng tiêu biểu cho khả năng hình thành năng lực chế tạo trong nước khi nhiệm vụ chuyển giao công nghệ được gắn với các dự án đầu tư và yêu cầu làm chủ thiết kế, chế tạo thiết bị. Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Cơ khí, từ việc triển khai Văn bản số 797/CP-CN, Viện được giao chủ trì tiếp nhận chuyển giao công nghệ thiết kế, chế tạo thiết bị cơ khí thủy công, khởi đầu tại dự án thủy điện A Vương.
Từ dự án đầu tiên, Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp với các doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo thiết bị cơ khí thủy công và mở rộng sang những công trình có quy mô lớn hơn. Các đơn vị cơ khí Việt Nam đã tham gia thiết kế, chế tạo thiết bị cơ khí thủy công cho hơn 29 công trình thủy điện vừa và lớn, trong đó có Thủy điện Sơn La công suất 2.400 MW và Thủy điện Lai Châu công suất 1.200 MW.
Tại dự án Thủy điện Lai Châu, Viện Nghiên cứu Cơ khí đặt mục tiêu làm chủ thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị cơ khí thủy công và hệ thống điều khiển đồng bộ. Trong quá trình triển khai, Viện áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành của Liên Xô, Liên bang Nga, Ukraine, Hoa Kỳ, Nhật Bản và các tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam.
Công tác thiết kế, chế tạo đòi hỏi lựa chọn vật liệu đáp ứng các yêu cầu về khả năng chịu uốn, xoắn, kéo, nén, chống mài mòn và hạn chế oxy hóa trong môi trường nước, không khí. Đồng thời, vật liệu phải bảo đảm tính phù hợp với các công đoạn gia công, hàn, cắt gọt và lắp ráp. Các hạng mục thiết bị cơ khí thủy công được bố trí tại cống dẫn dòng, cửa nhận nước, đập tràn xả sâu, xả mặt và cửa xả hạ lưu. Mỗi vị trí đều được trang bị hệ thống điều khiển đồng bộ phục vụ vận hành đóng, mở, nâng, hạ cửa van.
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thiết kế, đội ngũ kỹ sư của Viện phải tính toán, lựa chọn phương án công nghệ phù hợp cho từng công đoạn, từ chế tạo, lắp ráp tại nhà máy đến vận chuyển, lắp đặt tại công trường, nghiệm thu và đưa thiết bị vào vận hành ổn định. Đây là những yêu cầu kỹ thuật gắn liền với năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống cơ khí thủy công tại công trình thủy điện quy mô lớn.
Tại dự án Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã làm chủ công nghệ chế tạo thiết bị và hệ thống điều khiển đồng bộ cơ khí thủy công, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng.
Năng lực làm chủ thiết kế và chế tạo thiết bị trong nước đã góp phần giảm giá thành sản phẩm so với giai đoạn phụ thuộc vào nhập khẩu. Thành công của các công trình cũng thể hiện ở tiến độ triển khai. Thủy điện Sơn La hoàn thành sớm 3 năm so với tiến độ được Quốc hội thông qua, trong khi Thủy điện Lai Châu về đích trước 1 năm. Đây là kết quả tổng hợp của công tác quản lý, thiết kế, thi công, chế tạo thiết bị và tổ chức thực hiện dự án, trong đó có sự tham gia của các đơn vị cơ khí trong nước.
Giá trị nổi bật của kinh nghiệm cơ khí thủy công nằm ở bước chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang chủ động thiết kế, chế tạo và đảm nhận các công trình tiếp theo. Những đơn hàng gắn với nhiệm vụ chuyển giao công nghệ và trách nhiệm của đơn vị chủ trì đã tạo điều kiện để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm, phát triển đội ngũ kỹ thuật và nâng cao năng lực sản xuất. Năng lực hình thành từ một dự án tiếp tục được kế thừa, hoàn thiện và ứng dụng tại những công trình có yêu cầu kỹ thuật cao hơn.
Từ thực tiễn đó, TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí nhấn mạnh: "Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường các chương trình nghiên cứu theo cơ chế đặt hàng từ doanh nghiệp và từ các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia. Điều này giúp các nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường, đồng thời tạo đầu ra rõ ràng cho các sản phẩm khoa học và công nghệ".
Bài học từ cơ khí thủy công đặt ra yêu cầu gắn chính sách tạo thị trường với phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Đơn hàng phải đi đôi với tiêu chuẩn chất lượng, tiến độ, trách nhiệm thực hiện và mục tiêu làm chủ công nghệ. Sự hỗ trợ của Nhà nước cần hướng đến khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh, thay vì tạo ra cơ chế bao cấp hay bảo hộ kéo dài.
Một công trình có thể mang lại doanh thu, nhưng giá trị lâu dài của chính sách tạo thị trường phải được đo bằng năng lực thiết kế, chế tạo và làm chủ công nghệ mà doanh nghiệp tích lũy được để tiếp tục đảm nhận những công trình sau.
Trong quá trình phát triển công nghiệp cơ khí, Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi trọng vai trò định hướng, hỗ trợ của Nhà nước, nhất là ở giai đoạn hình thành năng lực sản xuất trong nước đối với những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trình độ công nghệ cao và thời gian tích lũy kinh nghiệm dài.
Ngày 15/6/1956, Nhật Bản ban hành Luật biện pháp tạm thời chấn hưng công nghiệp cơ khí nhằm thúc đẩy hiện đại hóa sản xuất, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm. Chính sách tập trung vào các ngành cơ khí nền tảng, nhất là máy công cụ, linh kiện và các bộ phận máy móc. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (RIETI) năm 2016, doanh nghiệp được xem xét hỗ trợ thông qua hai bước thẩm định về kỹ thuật và tài chính, qua đó tập trung nguồn lực vào những dự án có khả năng cải thiện năng lực sản xuất và sức cạnh tranh.
Tại Hàn Quốc, Luật chấn hưng công nghiệp cơ khí được ban hành ngày 30/3/1967, có hiệu lực từ ngày 1/7/1967. Đến năm 1986, khi chính sách phát triển công nghiệp chuyển sang giai đoạn mới, đạo luật này được bãi bỏ kể từ ngày 1/7/1986 theo Luật Phát triển công nghiệp.
Điểm chung trong kinh nghiệm của hai quốc gia là chính sách hỗ trợ ngành cơ khí được thiết kế theo mục tiêu phát triển, lựa chọn đối tượng ưu tiên và điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn. Nhà nước tạo điều kiện để doanh nghiệp tích lũy công nghệ, nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh, hướng tới phát triển năng lực sản xuất độc lập thay vì duy trì sự bảo hộ kéo dài.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bảo hộ vô điều kiện cũng không phải lời giải cho ngành cơ khí Việt Nam. "Thay thế nhập khẩu chỉ có lợi ích ròng khi so sánh giá trị sử dụng, chi phí nội địa, chất lượng và tác động đến ngành sử dụng thiết bị", ThS. Đinh Viết Hải - Viện Nghiên cứu Cơ khí nhận định và cho rằng nếu chi phí sản xuất trong nước quá cao, chất lượng không đáp ứng yêu cầu hoặc tiến độ chậm, chính các doanh nghiệp sử dụng thiết bị sẽ phải gánh chịu chi phí gia tăng và suy giảm năng lực cạnh tranh.
Giai đoạn 2026-2045, các công trình trọng điểm quốc gia tạo ra thị trường rất lớn, dự báo tổng nhu cầu thị trường cơ khí có thể đạt hàng trăm tỷ USD.
Bài toán đặt ra cho Chiến lược phát triển ngành cơ khí giai đoạn mới là tổ chức thị trường theo hướng tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời bảo đảm hiệu quả đầu tư và tuân thủ pháp luật. Từ những hạn chế của Chiến lược theo Quyết định số 319, có thể xác định 3 hướng chính sách trọng tâm.
Trước hết, chuyển nhu cầu thiết bị trong các quy hoạch năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến thành danh mục dự án, nhóm sản phẩm và kế hoạch mua sắm dài hạn. Thông tin về chủng loại thiết bị, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến độ và quy mô dự kiến được công bố đủ sớm sẽ giúp doanh nghiệp chủ động đầu tư dây chuyền, nhân lực và nghiên cứu phát triển.
Tiếp đó, hoàn thiện cơ chế tổ chức gói thầu và phát triển nhà cung cấp trong nước. Các dự án sử dụng vốn nhà nước có thể áp dụng chính sách ưu đãi hợp pháp, xác định phạm vi công việc phù hợp với năng lực doanh nghiệp Việt Nam và xây dựng điều kiện chuyển giao công nghệ trong những trường hợp có căn cứ pháp lý, kỹ thuật và thỏa thuận hợp đồng rõ ràng. Việc lựa chọn nhà thầu vẫn phải bảo đảm cạnh tranh, chất lượng, tiến độ và hiệu quả kinh tế.
Cuối cùng, hình thành cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, chế tạo thử và ứng dụng các sản phẩm cơ khí chiến lược gắn với nhu cầu dự án cụ thể. Kinh nghiệm từ cơ khí thủy công cho thấy giá trị của một công trình đầu tiên nằm ở khả năng tạo tiền đề cho những đơn hàng tiếp theo. Doanh nghiệp được hỗ trợ phải chứng minh kết quả bằng sản phẩm được nghiệm thu, năng lực thiết kế được làm chủ và khả năng cung ứng độc lập sau chuyển giao công nghệ.
Điều quan trọng không nằm ở số lượng chính sách ưu đãi được ban hành mà ở số doanh nghiệp thực sự trưởng thành từ những chính sách này. Mỗi cơ chế hỗ trợ phải có mục tiêu, thời hạn đánh giá và thước đo kết quả cụ thể, doanh nghiệp nhận được cơ hội tham gia thị trường cũng đồng thời chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, giá thành và tiến độ thực hiện.
20 năm tới mở ra cơ hội lớn để ngành cơ khí Việt Nam tận dụng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, từng bước nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và tham gia những dự án công nghiệp có giá trị cao. Tuy nhiên, quy mô thị trường không tự quyết định vị thế của doanh nghiệp trong nước, nếu thiếu cơ chế tổ chức đơn hàng gắn với phát triển năng lực công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nguy cơ đứng ngoài những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao ngay trên thị trường sân nhà.
Kinh nghiệm từ cơ khí thủy công khẳng định vai trò của những đơn hàng gắn với chuyển giao công nghệ, trách nhiệm của đơn vị thực hiện và yêu cầu làm chủ thiết kế, chế tạo. Từ nền tảng đó, doanh nghiệp trong nước từng bước tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực sản xuất và đảm nhận những công trình tiếp theo. Đây cũng là bài học quan trọng đối với Chiến lược phát triển ngành cơ khí trong giai đoạn mới: tạo thị trường có trọng tâm, hỗ trợ có điều kiện và lấy năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm cùng khả năng cạnh tranh làm thước đo hiệu quả chính sách.
Có được đơn hàng trên sân nhà mới là bước đầu, điều quyết định là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị gia tăng, làm chủ đến đâu về thiết kế, chế tạo và công nghệ. Đó mới là nền tảng để ngành cơ khí giảm dần sự phụ thuộc, nâng cao năng lực tự chủ và vươn lên trong chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu.
>>> Bài 3: Cơ khí Việt Nam: Từ nội địa hóa đến tự chủ công nghệ.