Phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chiều sâu
Ngày 2/10, tại Hội nghị ngành Công Thương 15 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XII năm 2026 diễn ra tại TP. Hải Phòng, các đại biểu tập trung thảo luận nhiều nội dung có tính thực tiễn cao.
Đại diện TP. Bắc Ninh tập trung đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chiều sâu, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và tăng cường liên kết với các doanh nghiệp dẫn dắt.
Các đại biểu tham gia sự kiện.
Theo định hướng của Bắc Ninh, giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035, phát triển công nghiệp hỗ trợ không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp mà cần chuyển trọng tâm sang nâng cấp năng lực, hình thành các nhà cung ứng có khả năng đáp ứng yêu cầu về công nghệ, chất lượng, quản trị sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng giao hàng ổn định.
Đây là yêu cầu xuất phát từ thực tế Bắc Ninh đã hình thành hệ sinh thái công nghiệp tương đối đa dạng, với sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực điện tử, sản xuất thiết bị và công nghiệp công nghệ cao. Lợi thế này tạo điều kiện để phát triển mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, song đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước.
Bắc Ninh đề nghị tăng cường liên kết vùng trong phát triển công nghiệp hỗ trợ, bởi chuỗi cung ứng trên thực tế không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Doanh nghiệp tại Bắc Ninh có thể trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp tại Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Nguyên, Hà Nội và ngược lại. Kiến nghị nghiên cứu hình thành mạng lưới phát triển nhà cung ứng khu vực phía Bắc, trong đó các địa phương chia sẻ dữ liệu về doanh nghiệp, sản phẩm, năng lực sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu mua hàng; từng bước áp dụng các tiêu chí đánh giá tương đối thống nhất và tổ chức kết nối theo từng chuỗi ngành.
Tỉnh cũng đề xuất tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về phát triển công nghiệp hỗ trợ; đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách; tăng nguồn lực cho Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035; hoàn thiện cơ chế tài chính và phát triển hệ thống phòng thử nghiệm, đo kiểm, chứng nhận phục vụ doanh nghiệp. Đồng thời, kiến nghị tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, khuyến khích doanh nghiệp dẫn dắt chia sẻ nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu chất lượng, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá, thử nghiệm và từng bước tham gia chuỗi cung ứng.
Phát huy tiềm năng năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng
Với đặc thù là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình chia cắt, dân cư phân tán và thường xuyên chịu tác động của mưa lũ, sạt lở, tỉnh Lai Châu đặt vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội và khả năng chống chịu trước thiên tai.
Đại diện lãnh đạo tỉnh Lai Châu phát biểu tại sự kiện.
Theo đại diện tỉnh Lai Châu, an ninh năng lượng không chỉ là cung ứng đủ điện, xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng cho sản xuất và đời sống mà còn phải bảo đảm nguồn cung an toàn, liên tục, chủ động và phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương.
Đến hết tháng 8/2026, 38/38 xã, phường trên địa bàn Lai Châu đã có điện lưới quốc gia; 613/616 thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia, đạt 99,52%; 105.749/107.003 hộ được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác, đạt 98,8%.
Tuy nhiên, phần còn lại chủ yếu là những hộ dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, phân bố rải rác, xa lưới điện hiện hữu. Chi phí đầu tư kéo điện lưới đến các khu vực này lớn, đặt ra yêu cầu nghiên cứu những mô hình cấp điện phù hợp. Trong thời gian chờ mở rộng lưới điện quốc gia, Lai Châu đã triển khai hỗ trợ hệ thống điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ và thiết bị điện sau công tơ cho các hộ dân chưa có điện. Đến nay, 1.062 hộ đã được hỗ trợ với tổng mức đầu tư khoảng 13,41 tỷ đồng.
Cùng với bảo đảm điện, Lai Châu đặc biệt quan tâm nguồn cung xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng. Do phần lớn nhiên liệu phải vận chuyển bằng đường bộ từ các địa phương khác, nguy cơ gián đoạn nguồn cung có thể gia tăng khi xảy ra mưa lớn, lũ quét hoặc sạt lở. Tỉnh cho biết đang tăng cường theo dõi nguồn cung, lượng dự trữ và hoạt động bán hàng; đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng xây dựng phương án bảo đảm nguồn hàng, nhất là tại các địa bàn xa trung tâm và có nguy cơ bị chia cắt.
Về phát triển nguồn điện, Lai Châu xác định thủy điện tiếp tục là một trong những lợi thế quan trọng. Theo phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong Quy hoạch tỉnh điều chỉnh được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 27/2/2026, trên địa bàn tỉnh có 342 dự án năng lượng với tổng công suất 24.688,5 MW. Trong đó, 150 dự án nguồn điện với tổng công suất 5.384 MW đã được phê duyệt chủ trương đầu tư; tổng công suất sau điều chỉnh, mở rộng là 6.243,8 MW. Lai Châu hiện có 73 dự án thủy điện đưa vào vận hành với tổng công suất 3.268,4 MW.
Từ thực tiễn này, Lai Châu nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn điện phải đi cùng với phát triển lưới điện. Việc đầu tư đường dây, trạm biến áp và hệ thống truyền tải cần được triển khai đồng bộ để giải tỏa công suất, tránh tình trạng nguồn điện được đầu tư nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả do hạn chế về truyền tải.
Tỉnh Lai Châu cũng đề nghị Trung ương và các đơn vị điện lực quan tâm đầu tư, nâng cấp lưới điện tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đẩy nhanh các dự án đường dây, trạm biến áp; tăng cường phối hợp trong giải phóng mặt bằng, đấu nối và triển khai dự án. Bên cạnh thủy điện, Lai Châu định hướng nghiên cứu các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới phù hợp với điều kiện tự nhiên và khả năng tiếp nhận của hệ thống điện, đồng thời tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Từ góc độ đô thị cảng và trung tâm logistics, Hải Phòng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa sản xuất, logistics, thương mại và thị trường. Việc phát huy lợi thế cảng biển, hạ tầng logistics và khả năng kết nối thị trường được đặt trong tổng thể liên kết với các địa phương trong khu vực.
Các đại biểu trao đổi, thảo luận tại sự kiện.
Các tham luận tại hội nghị cho thấy yêu cầu liên kết ngành Công Thương hiện nay không còn dừng ở trao đổi thông tin giữa các địa phương mà cần hướng tới kết nối thực chất giữa vùng nguyên liệu - sản xuất - công nghiệp hỗ trợ - logistics - thương mại - xuất khẩu.
Theo đó, mỗi địa phương cần phát huy lợi thế riêng, đồng thời tăng khả năng bổ trợ cho nhau trong chuỗi giá trị. Tiêu biểu, Bắc Ninh có thế mạnh về công nghiệp điện tử, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao; Lai Châu có lợi thế về năng lượng; Hải Phòng có vai trò quan trọng về cảng biển, logistics và thương mại.
Khi được kết nối thông qua hạ tầng, dữ liệu, doanh nghiệp và thị trường, những lợi thế này có thể tạo ra không gian phát triển rộng hơn cho toàn vùng.
Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái yêu cầu ngành Công Thương các địa phương tiếp tục chủ động triển khai nhiệm vụ, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh; đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Trung ương và địa phương.
Một trong những yêu cầu xuyên suốt được đặt ra là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang đồng hành, kiến tạo và hỗ trợ phát triển; lấy doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất, kinh doanh làm một trong những trọng tâm của công tác quản lý ngành.
Phát biểu tiếp thu ý kiến chỉ đạo, Giám đốc Sở Công Thương Hải Phòng Nguyễn Hoàng Long khẳng định sẽ phối hợp với các địa phương trong khu vực cụ thể hóa các nội dung được thống nhất tại hội nghị, tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy các chương trình hợp tác thiết thực.
Từ kết nối chính sách đến kết nối hạ tầng, từ liên kết sản xuất đến logistics, thương mại điện tử và thị trường, các tham luận tại Hội nghị ngành Công Thương 15 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XII năm 2026 cho thấy yêu cầu hình thành những chuỗi giá trị có sức cạnh tranh cao hơn đang ngày càng rõ nét. Đây không chỉ là câu chuyện của từng địa phương mà là yêu cầu đặt ra đối với toàn vùng, nhằm giảm chi phí, nâng cao năng lực doanh nghiệp, mở rộng thị trường và tạo thêm động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.