Hạt điều khởi sắc đầu năm, củng cố vị thế tỷ đô
Những ngày đầu năm mới, khi nhiều doanh nghiệp còn tất bật hoàn tất đơn hàng cuối quý, ngành điều đã kịp ghi dấu bằng những con số khởi sắc. Theo số liệu từ Cục Hải quan, tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu 50,6 nghìn tấn hạt điều, trị giá 34,7 triệu USD. So với tháng trước, lượng và trị giá đều giảm trên 25% do yếu tố mùa vụ và nhịp nghỉ Tết, nhưng nếu so với cùng kỳ năm 2025, xuất khẩu lại tăng mạnh 35% về lượng và 36,1% về trị giá.
Chế biến điều tại Công ty Cổ phần Hà Mỵ. Ảnh: N.H
Giá xuất khẩu bình quân đạt 6.841 USD/tấn, nhích nhẹ so với cả tháng 12/2025 và tháng 1/2025. Hoa Kỳ và Trung Quốc tiếp tục là hai thị trường lớn nhất, chiếm gần 37,5% tổng lượng xuất khẩu. Đáng chú ý, xuất khẩu sang hầu hết các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đức, Canada, Anh, Thái Lan, Nhật Bản đều tăng trưởng hai con số so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2025, ngành điều khép lại với dấu ấn đặc biệt khi xuất khẩu hạt điều đạt 766.585 tấn, trị giá 5,22 tỷ USD, tăng 5,7% về lượng so với năm 2024 và lập kỷ lục mới về kim ngạch. Sau rau quả và cà phê, hạt điều vươn lên trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam, trong bối cảnh kim ngạch gạo giảm mạnh. 2025 cũng là năm hạt điều chính thức gia nhập “câu lạc bộ” nông sản xuất khẩu trên 5 tỷ USD.
Một thay đổi đáng chú ý là lần đầu tiên Trung Quốc trở thành thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam, với kim ngạch 1,115 tỷ USD. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 975 triệu USD, tiếp theo là Hà Lan với 495 triệu USD.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), xuất khẩu điều sang Trung Quốc tăng mạnh nhờ kinh tế nước này phục hồi, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có lợi cho sức khỏe gia tăng, cùng với việc doanh nghiệp Việt Nam chủ động đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc.
Trong khi đó, Hoa Kỳ, thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam suốt hơn một thập kỷ vẫn giữ vai trò then chốt. Việc áp thuế đối ứng trước đây từng tạo áp lực nhất định, song bước sang năm 2026, nhiều tín hiệu tích cực đã xuất hiện khi hạt điều nhân sơ chế thuộc nhóm được miễn thuế đối ứng, tức thuế vào Mỹ ở mức 0%. Đây được xem là “cú hích” để doanh thu từ thị trường này quay trở lại.
Đáng chú ý, tại Hoa Kỳ, xu hướng tiêu dùng đang dịch chuyển sang các sản phẩm chế biến sẵn. Nếu nhập khẩu nhân điều có thời điểm chững lại, thì nhóm hạt điều chế biến lại tăng. Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan và Canada là những nguồn cung chính cho phân khúc này. Điều đó đặt ra một gợi mở quan trọng, tương lai của ngành điều không chỉ nằm ở sản lượng, mà ở khả năng chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm.
Trong “rổ hạt” hiện nay, giá bán hạt điều đang thấp hơn khoảng 5% so với óc chó, hạnh nhân hay hạt dẻ cười. Lợi thế cạnh tranh về giá, trong bối cảnh người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, có thể giúp nhu cầu tiêu thụ tại Mỹ và nhiều thị trường khác gia tăng.
Hướng đến xây dựng hệ sinh thái sản phẩm
Bên cạnh những con số xuất khẩu là bài toán nguyên liệu thô, vấn đề nhiều năm qua vẫn khiến doanh nghiệp trăn trở. Hiện hơn 50% lượng điều thô nhập khẩu của Việt Nam đến từ châu Phi. Trong khi đó, nhiều quốc gia sản xuất lớn như Bờ Biển Ngà đang điều chỉnh chính sách, hạn chế xuất khẩu điều thô để phát triển công nghiệp chế biến trong nước.
Thách thức vì thế không chỉ là nguy cơ thiếu nguyên liệu, mà còn là sự cạnh tranh trực tiếp. Hàng chế biến từ châu Phi xuất sang Mỹ, châu Âu có lợi thế về khoảng cách địa lý và chi phí logistics.
Tuy nhiên, theo VINACAS, nguồn cung điều thô toàn cầu niên vụ 2025–2026 được dự báo đạt hơn 5,5 triệu tấn, tăng khoảng 3% so với niên vụ trước. Nguồn nguyên liệu vì thế không thiếu, vấn đề là cách tiếp cận và chiến lược của doanh nghiệp.
Một hướng đi đã được một số doanh nghiệp triển khai là đầu tư nhà máy ngay tại châu Phi để chủ động nguồn nguyên liệu. Ông Vũ Thái Sơn, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Long Sơn (TP. Hồ Chí Minh) cho biết, khi mở nhà máy tại Bờ Biển Ngà, doanh nghiệp mua được điều thô với giá khoảng 900 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với mức 1.400 USD/tấn nếu nhập trực tiếp về Việt Nam. Lợi thế giá nguyên liệu giúp tăng sức cạnh tranh cho điều nhân xuất khẩu.
Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp cũng lựa chọn xây dựng vùng nguyên liệu trong nước, ký bao tiêu với hợp tác xã trồng điều, vừa đảm bảo nguồn cung, vừa chia sẻ lợi ích với nông dân. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Phạm Ngọc Thành, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Hà Mỵ (tỉnh Đồng Nai) cho hay, công ty chủ động xây dựng vùng nguyên liệu tại chỗ thông qua ký kết bao tiêu sản phẩm với các hợp tác xã trồng điều trên địa bàn.
Cách làm này không chỉ giúp doanh nghiệp ổn định nguồn cung mà còn thể hiện trách nhiệm đồng hành cùng sự phát triển bền vững của địa phương. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đang phát triển chuỗi giá trị khép kín, đầu tư công nghệ và đặt mục tiêu chế biến sâu thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm rang muối truyền thống.
Theo ông Thành, nếu chỉ xoay quanh điều rang muối dù điều chỉnh mặn, nhạt hay giòn hơn, sự khác biệt giữa các nhà sản xuất không lớn. Trong khi đó, hạt điều hoàn toàn có thể trở thành nguyên liệu cho nhiều dòng sản phẩm giá trị cao như sữa hạt điều, bơ điều, thực phẩm dinh dưỡng cho người ăn chay, ăn kiêng hay các sản phẩm kết hợp.
Trước đây, không ít lô điều nhân Việt Nam đã được xuất sang Mỹ để chế biến thành sữa hạt và các sản phẩm cao cấp tại thị trường này. Điều đó cho thấy tiềm năng là có thật; điều còn thiếu là đầu tư tương xứng cho chế biến sâu trong nước.
Khi làm chủ công nghệ và xây dựng hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, ngành điều sẽ giảm phụ thuộc vào một vài dòng hàng đơn lẻ, hạn chế rủi ro “được mùa - rớt giá”. Quan trọng hơn, tư duy sản xuất cũng cần chuyển từ “bán cái mình có” sang “bán cái thị trường cần”.
“Điều này đòi hỏi xác định rõ phân khúc khách hàng mục tiêu và tiêu chuẩn sản phẩm tương ứng. Nếu hướng tới nhóm cao cấp, sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, an toàn thực phẩm, bao bì, truy xuất nguồn gốc và câu chuyện thương hiệu. Khi tiêu chuẩn rõ ràng, thị trường mục tiêu cũng sẽ rõ ràng hơn”, ông Thành chia sẻ.
Năm 2026 được dự báo tiếp tục thuận lợi khi nhu cầu hạt điều toàn cầu tăng, đặc biệt tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, các nước Bắc Âu và ASEAN. Người tiêu dùng trẻ tuổi đang thúc đẩy xu hướng sử dụng sản phẩm có nguồn gốc thực vật, mở ra không gian mới cho sữa và bơ hạt điều.
VINACAS cũng xác định phát triển nguyên liệu trong nước và chế biến sâu là ưu tiên chiến lược dài hạn. Mục tiêu không chỉ giữ vững vị thế dẫn đầu toàn cầu về xuất khẩu điều nhân, mà còn nâng cao hiệu quả, lợi nhuận và tính bền vững.
Xuân mới gõ cửa, câu chuyện của ngành điều Việt Nam vì thế không chỉ là những con số tỷ đô, mà là hành trình chuyển mình của một ngành hàng đã đi qua nhiều biến động. Khi từng doanh nghiệp chủ động đổi mới, từng vùng nguyên liệu được củng cố, từng sản phẩm được nâng tầm giá trị, hạt điều Việt Nam sẽ không chỉ giữ vững ngôi vị xuất khẩu, mà còn bước vào một mùa xuân dài hơn, mùa xuân của chất lượng và sáng tạo.
Kim ngạch xuất khẩu nhân điều của Việt Nam đạt trên 5,43 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về chế biến và xuất khẩu điều. Vị thế này không chỉ phản ánh quy mô sản xuất, mà còn cho thấy năng lực chế biến, kiểm soát chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.