Hiện nay, ngành gia vị Việt Nam đang nổi lên là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng nông nghiệp toàn cầu, phát triển theo xu hướng sạch, hữu cơ và bền vững. Chúng ta đang nỗ lực đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe mới của thị trường về giảm phát thải, cũng như các yếu tố liên quan đến con người và môi trường.
Trả lời phỏng vấn Báo Công Thương, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA) khẳng định, để nâng cao vị thế của ngành gia vị Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu và định vị thương hiệu quốc gia một cách bài bản và thành công hơn trên bản đồ thương mại thế giới, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.
Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam
Giữ vững vị thế cạnh tranh
- Từ một ngành hàng đã có vị thế trên bản đồ xuất khẩu thế giới, đồng thời còn nhiều tiềm năng để phát triển, làm thế nào để gia vị Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng dựa trên giá trị gia tăng và thương hiệu quốc gia?
Bà Hoàng Thị Liên: Rõ ràng trên thực tế, Việt Nam đã xác lập được vị thế cạnh tranh vượt trội, có thể nói là gần như không có “đối thủ” về ngành hàng gia vị trên thế giới. Với các mặt hàng chủ lực như hồ tiêu, quế, hồi, gừng, nghệ,… chúng tôi đặt mục tiêu tiếp tục gia tăng sản lượng xuất khẩu để tiếp tục giữ vững vị trí cạnh tranh trong thời gian tới.
Tuy nhiên, nhiệm vụ hiện nay là phải kiện toàn vị thế, trong đó có nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu và khẳng định "Thương vị Quốc gia" cho ngành gia vị Việt Nam. Trong vai trò điều phối và dẫn dắt các doanh nghiệp, Hiệp hội đang xây dựng và phát triển một thương hiệu chung của cả ngành hàng tỏa sáng trên bản đồ thế giới, thay vì chỉ dừng lại ở các thương hiệu doanh nghiệp riêng lẻ.
Mối quan tâm lớn nhất của chúng tôi hiện nay không phải là các quy định khắt khe của thị trường quốc tế (như Mỹ, Nhật Bản...) vì doanh nghiệp xác định đó là yếu tố “sống còn” để xuất khẩu và thực tế hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đã sẵn sàng đáp ứng. Điều chúng tôi mong muốn hơn là các thể chế và quy định trong nước để tạo thuận lợi tối đa, mọi mặt cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, liên kết sản xuất.
Chúng tôi mong muốn một môi trường chính sách thông thoáng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất và mở rộng liên kết vùng nguyên liệu với bà con nông dân. Chỉ khi đó, chất lượng sản phẩm mới được đảm bảo bền vững và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường.
Gian hàng ngành gia vị Việt Nam tại Hội Chợ Thực phẩm và Đồ uống Gulfood 2025. Ảnh: VPSA
- Theo bà, những chính sách, quy định nào doanh nghiệp đang mong muốn ưu tiên triển khai trong thời gian này để ngành gia vị thêm "lực đẩy" phát triển?
Bà Hoàng Thị Liên: Chúng tôi kỳ vọng các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Bộ Công Thương, sẽ tiếp tục hỗ trợ sự phát triển của ngành hàng với vai trò kiến tạo và dẫn dắt về mặt thể chế, chính sách. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa cơ hội và lợi thế thị trường đem lại. Trong đó có việc khai thác thị trường theo hướng bền vững: vừa giữ vững thị phần, vừa gia tăng giá trị.
Sự tăng trưởng về cuối cùng sẽ tạo nguồn lực để hỗ trợ ngược lại cho bà con nông dân – lực lượng lao động nòng cốt đang đồng hành cùng doanh nghiệp trong canh tác và sản xuất theo quy chuẩn thị trường.
Thứ nhất, về xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương với vai trò đầu mối, cần tiếp tục quan tâm và ưu tiên nguồn lực và ngân sách cho các hoạt động tại các thị trường xuất khẩu.
Dù đa dạng hóa thị trường là cần thiết, chúng ta không nên cho phép mình lơ là các thị trường xuất khẩu chủ lực. Có thể không tăng về quy mô nhưng có thể gia tăng hàm lượng các sản phẩm giá trị gia tăng. Do đó, các hoạt động xúc tiến thương mại cần được duy trì thường xuyên và hỗ trợ hiệu quả hơn cho các hiệp hội, ngành hàng.
Thứ hai, về các chính sách quản lý chất lượng sản phẩm. Chúng ta cần tiếp tục đồng bộ hóa các tiêu chuẩn sao cho thống nhất và tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế như: FDA, USDA... Khi đó, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được đáng kể chi phí và công sức khi xây dựng theo nhiều bộ tiêu chuẩn khác nhau. Để làm được điều này, cần sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quản lý như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường,...
Song song với đó, các quy định về quản lý sản xuất và vật tư đầu vào cũng cần được kiểm soát chặt chẽ hơn như việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, quản lý mã số vùng trồng,… để đảm bảo an toàn chất lượng sản phẩm từ gốc. Việc đưa mọi tác nhân trong chuỗi cung ứng vào một hệ sinh thái hoạt động thống nhất sẽ giúp giảm thiểu rất nhiều chi phí trung gian và rủi ro cho doanh nghiệp xuất khẩu bởi đây là đơn vị chịu trách nhiệm cuối cùng về sản phẩm.
Cuối cùng, về các chính sách quản lý vĩ mô liên quan đến tài chính - tín dụng, chúng tôi mong muốn có các chính sách hỗ trợ tốt hơn về vay vốn, đặc biệt là tài chính xanh cho các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, đầu tư vào công nghệ và xây dựng thương hiệu. Điều này giúp tạo sự cạnh tranh công bằng hơn cho doanh nghiệp trong nước khi so sánh với các doanh nghiệp FDI vốn đã có lợi thế lớn về vốn và công nghệ.
Ngành gia vị Việt Nam đang tích cực khai thác thị trường theo hướng bền vững: vừa giữ vững thị phần, vừa gia tăng giá trị. Ảnh: VPSA
Kỳ vọng về những "lực đẩy"...
- Quá trình “xanh hóa” và minh bạch hóa chuỗi cung ứng đòi hỏi chi phí lớn và lộ trình dài. Theo bà, đâu sẽ là lực kéo chính thúc đẩy quá trình này?
- Bà Hoàng Thị Liên: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ sang tiêu dùng xanh, sạch và yêu cầu truy xuất nguồn gốc, sự minh bạch chính là chìa khóa để xây dựng niềm tin giữa các bên: người mua – người bán, nhà nhập khẩu - nhà xuất khẩu. Từ đó, xây dựng và củng cố uy tín, vị thế trên thị trường. Thời gian qua, Bộ Công Thương đã ban hành nhiều chính sách, quy định để thúc đẩy quá trình “xanh hoá” và minh bạch chuỗi cung ứng. Điều này là hoàn toàn phù hợp để nâng cao uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đồng thời cũng là những hành lang pháp lý vô cùng cần thiết.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi toàn bộ hệ thống ngành hàng không thể diễn ra trong một sớm một chiều mà cần có lộ trình. Chiến lược của chúng tôi là để các doanh nghiệp đầu tàu (Top 10, Top 20) đi tiên phong. Sự thay đổi của họ sẽ vừa tạo động lực, vừa tạo sức ép để kéo các doanh nghiệp đi sau cùng chuyển mình, từng bước đưa toàn ngành đạt được sự phát triển như kỳ vọng.
Với bề dày hơn 20 năm phát triển rất tốt của ngành hồ tiêu, chúng tôi sẽ tận dụng những thành tựu và lợi thế sẵn có này làm bàn đạp để tiếp tục hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các loại cây gia vị khác trong tương lai.
- Vậy những doanh nghiệp vừa và nhỏ - lực lượng đông đảo trong ngành gia vị hiện nay đang cần những cơ chế thiết yếu nào, thưa bà?
- Bà Hoàng Thị Liên: Điểm hạn chế lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chính là thiếu vốn. Trong sản xuất nông nghiệp, muốn phát triển vùng nguyên liệu quy mô đủ lớn, đạt chuẩn chất lượng bắt buộc phải có sự đầu tư và liên kết bền vững với nông dân.
Hiện nay, chỉ một số ít doanh nghiệp tận dụng được sự hỗ trợ tài chính từ các đối tác, bạn hàng lâu năm. Đa phần các nhà xuất khẩu còn lại đều phải tự lực xoay sở chi phí đầu tư. Đối với ngành gia vị, nơi phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ (quy mô trung bình chỉ 20 - 30 lao động), nguồn vốn tự thân thường rất mỏng. Chúng tôi không thể tham vọng thực hiện ngay các dự án lớn để quy hoạch vùng nguyên liệu hay bao tiêu đầu ra cho nông dân, mà buộc phải làm cầm chừng, tích lũy dần theo từng năm, từng vụ.
Chính vì vậy, nếu có một kênh hỗ trợ vốn thông thoáng và thuận lợi, tôi tin rằng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong ngành gia vị sẽ tạo ra những bước bứt phá mạnh mẽ trong thời gian tới.
Theo thống kê sơ bộ của VPSA, tính đến hết tháng 3/2026 Việt Nam đã xuất khẩu được 66.350 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 55.322 tấn và tiêu trắng đạt 11.018 tấn với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 430, triệu USD, tăng mạnh 39,2% về sản lượng và kim ngạch tăng 31,7% so với cùng kỳ năm ngoái.