Đóng

Ngành hóa chất tăng hiệu quả sản xuất nhờ ứng dụng công nghệ

Trong lĩnh vực hóa chất, nhiều công nghệ tiên tiến đã được nghiên cứu triển khai, chuyển giao vào sản xuất mang lại hiệu quả cao.

Tiết kiệm chi phí năng lượng

Theo Bộ Công Thương, trong lĩnh vực hóa chất, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các đơn vị nghiên cứu ngành Công Thương đã chủ động nghiên cứu ứng dụng và sản xuất thành công một số sản phẩm mới. Nhiều sản phẩm trong số đó bước đầu đã được thương mại hóa thành công trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và môi trường.

Ngành hóa chất tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất.

Nổi bật là bộ chế phẩm tiên tiến tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng, gồm chế phẩm FNT6VN và chế phẩm ECOAL của Phòng thí nghiệm trọng điểm lọc hóa dầu đã được đưa vào ứng dụng trong một số nhà máy xi măng, mang lại hiệu quả nổi bật về tiết kiệm chi phí năng lượng trong sản xuất, giảm phát thải khí ô nhiễm, giảm các hiện tượng bám dính, đóng tảng trong lò nung clinker và calciner, dẫn đến giảm chi phí bảo trì, bảo dưỡng, tăng tuổi thọ cho gạch chịu lửa trong lò nung clinker.

Các số liệu tài chính tại nhà máy xi măng Tân Thắng cho thấy, sử dụng bộ chế phẩm nêu trên cho nhà máy (công suất 2 triệu tấn/năm) mang lại lợi nhuận ròng từ việc giảm chi phí năng lượng trong sản xuất clinker là trên 170 tỷ đồng/năm (chưa tính các lợi ích mang lại về khía cạnh môi trường, và khía cạnh lợi thế trong bảo trì, bảo dưỡng, vận hành).

Ứng dụng chế phẩm ECOAL trong nhà máy xi măng có thể giúp nhà máy sử dụng được các loại nhiên liệu có chất lượng suy giảm, nhiên liệu thay thế mà không cần phải đầu tư chi phí để cải hoán vòi đốt (tiết kiệm được khoảng 110 tỷ đồng chi phí để cải hoán vòi đốt cho một dây chuyền sản xuất).

Hiện tại, ứng dụng của bộ chế phẩm nêu trên đang được tiếp tục phát triển sang các lĩnh vực khác như: nhiệt điện, xây dựng, hóa chất, sản xuất công nghiệp khác…

Ước tính, nếu bộ hai chế phẩm được đưa vào sử dụng đại trà ở Việt Nam sẽ góp phần tiết giảm được chi phí năng lượng trong các hoạt động giao thông vận tải và công nghiệp khoảng 3 tỷ USD/năm, trong khi không phải đầu tư hoặc cải hoán bất kỳ cơ sở hạ tầng nào. Ngoài ra, còn vô số các lợi ích khác như: giảm thiểu phát thải khí ô nhiễm, giảm chi phí bảo trì, bảo dưỡng, tăng tuổi thọ của động cơ, máy móc.

Chủ động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ

Trong từng lĩnh vực của ngành công nghiệp hóa chất, các doanh nghiệp đã chủ động đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ.  Đơn cử, trong sản xuất phân bón, Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã thực hiện thành công công trình “Nghiên cứu sử dụng 100% quặng apatit tuyển ẩm không qua sấy để sản xuất supe lân thương phẩm 16 - 16,5% P2O5 hữu hiệu”, giúp giảm tiêu hao than do không phải sử dụng quặng nguyên khai; giảm tiêu hao điện năng do dừng các hệ thống sấy, nghiền với tổng công suất các thiết bị dừng là 1.293 kW; giảm lượng khí thải, và tiếng ồn do không phải vận hành nhà máy nghiền bi.

Công trình “Nghiên cứu, triển khai áp dụng giải pháp sử dụng quặng apatit nguyên khai loại I vụn vào phối liệu sản xuất lân nung chảy hàm lượng cao > 18% P2O5 hữu hiệu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang NewZealand, Nhật Bản”, đã giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, giảm chi phí sản xuất, tăng uy tín do mở rộng xuất khẩu sang thị trường yêu cầu cao về chất lượng.

Hay, công trình “Nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm phân lân nung chảy đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu” đã sản xuất được phân lân nung chảy ở mức chất lượng 17-19% P205 hữu hiệu; sản phẩm phân lân nung chảy của Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển ngoài việc đáp ứng nhu cầu trong nước còn xuất khẩu sang Australia, Nhật Bản, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc)...

Công trình “Xây dựng các giải pháp công nghệ xử lý axit H2SiF6 dây chuyền sản xuất supe phốt phát nhằm giảm chi phí xử lý môi trường” của Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã được trao Giải nhất VIFOTEC.

Trong chế biến và sản xuất các sản phẩm cao su, Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng đã nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả kết quả của các đề tài: “Nghiên cứu chế tạo, thi công lắp đặt dây chuyền cán tráng vải mành phục vụ sản xuất lốp bias và lốp xe đạp, xe máy”, “Nghiên cứu sản xuất các loại màng lắp đặt trong các thiết vị sản xuất sản phẩm lốp ô tô của Công ty”.

Bên cạnh đó, Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng đã nghiên cứu công nghệ chế tạo lốp máy bay bơm hơi không có săm, là công nghệ hoàn toàn mới ở Việt Nam, chưa có tổ chức nào nghiên cứu sản xuất.

Công ty Cổ phần Cao su Miền Nam đã nghiên cứu quy trình sản xuất săm xe máy, săm xe công nghiệp bằng cao su butyl; sản phẩm có nhiều đặc tính kỹ thuật vượt trội so với săm xe cùng loại làm từ cao su tự nhiên về tính kín khí, chịu nhiệt, tuổi thọ cũng như trọng lượng.

Trong sản xuất hóa chất cơ bản, Công ty Cổ phần Phân bón và Hóa chất Cần Thơ đã nghiên cứu và ứng dụng thành công công nghệ sản xuất sản phẩm Zeolit 4A có độ tinh khiết 99% trong các lĩnh vực sản xuất chất tẩy rửa, nuôi trồng thủy sản, hóa mỹ phẩm, xúc tác công nghiệp...

Một ví dụ khác là, Công ty Cổ phần Hóa chất miền Nam đã nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhiệt thừa từ dây chuyền axit sulphuric, giúp tận dụng triệt để nhiệt năng để sản xuất hơi nước và khí nóng, giảm tiêu hao dầu FO và khí LPG.

Ngoài ra, Công ty cổ phần Hóa chất cơ bản miền Nam, Công ty Cổ phần hóa chất Việt Trì đã nghiên cứu, sản xuất sản phẩm PAC (Poly Aluminium Chloride) có chất lượng cao, giá thành hạ có thể cạnh tranh với sản phẩm PAC nhập khẩu từ Trung Quốc.

Các doanh nghiệp trong lĩnh vực hoá chất đã chú trọng tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật và cách thức sản xuất mới, đổi mới công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ.

Quỳnh Nga