Đóng

Ngày Chè thế giới: Xây thương hiệu để chè Việt thoát xuất khẩu thô

Ngày Chè thế giới 21/5 là dịp nhìn lại ngành chè Việt trong cuộc đua thương hiệu toàn cầu, nơi chất lượng, chế biến sâu và câu chuyện văn hóa trở thành lợi thế cạnh tranh

Thương hiệu chè Việt không thể mãi đứng sau sản lượng

Từ lâu, Thái Nguyên được xem là “đệ nhất danh trà” của Việt Nam. Những đồi chè xanh trải dài trên vùng trung du không chỉ tạo sinh kế cho hàng trăm nghìn hộ dân mà còn góp phần tạo nên bản sắc của cả một vùng đất. Với gần 24.000ha chè, dẫn đầu cả nước về sản lượng và giá trị sản xuất, Thái Nguyên hiện là vùng nguyên liệu trọng điểm, đồng thời là trung tâm chế biến và phát triển nhiều dòng trà chất lượng cao.

Ngành chè Việt đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới tư duy sản xuất, xây dựng thương hiệu và nâng sức cạnh tranh quốc tế. Ảnh minh họa

Hàng trăm sản phẩm OCOP 3-5 sao đã có mặt tại nhiều thị trường như châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á. Tuy nhiên, phía sau những con số ấy vẫn còn một câu hỏi lớn: Làm thế nào để chè Việt có chỗ đứng trên thị trường thế giới bằng chính thương hiệu của mình, thay vì chủ yếu xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô?

Hiện, Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè và thứ 6 về sản xuất. Dù vậy, giá chè xuất khẩu bình quân vẫn thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung toàn cầu. Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, phần lớn chè Việt vẫn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, nhiều thương hiệu trà quốc tế tạo giá trị nhờ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và chinh phục phân khúc cao cấp.

Điều này cho thấy điểm yếu lớn nhất của ngành chè hiện nay không nằm ở sản lượng mà ở năng lực tổ chức sản xuất và xây dựng thương hiệu. Sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết vùng nguyên liệu thiếu chặt chẽ, công nghệ chế biến chưa đồng bộ, trong khi áp lực cạnh tranh quốc tế ngày càng lớn.

Không ít doanh nghiệp muốn đầu tư sản xuất sạch, cơ giới hóa và công nghệ cao nhưng gặp khó vì vùng nguyên liệu phân tán. Tình trạng đứt gãy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp khi giá thị trường biến động vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Trong khi đó, các thị trường xuất khẩu truyền thống như Pakistan hay Afghanistan tiềm ẩn nhiều rủi ro do biến động địa chính trị, buộc ngành chè phải mở rộng thị trường mới và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu giá rẻ.

Chè Việt muốn nâng giá trị phải kể được câu chuyện của mình

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chè đạt 57,8 triệu USD. Giá xuất khẩu bình quân tăng gần 6% so với cùng kỳ cho thấy dư địa nâng giá trị vẫn còn lớn nếu ngành chè chuyển mạnh sang phân khúc chất lượng cao.

Nhìn vào những doanh nghiệp, hợp tác xã đang chuyển hướng sang chế biến sâu có thể thấy rõ nỗ lực thay đổi tư duy sản xuất. Từ trà túi lọc, matcha đến trà hòa tan, các dòng sản phẩm mới không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại mà còn mở rộng dư địa giá trị cho cây chè. 

Tại Thái Nguyên, câu chuyện của Công ty TNHH MTV Thương mại Hùng Thái với những lô chè túi lọc chuẩn bị xuất sang Mỹ hay HTX Chè an toàn Khe Cốc kiên trì theo đuổi sản xuất hữu cơ cho thấy một xu hướng rõ nét: muốn đi xa phải thay đổi từ gốc. Thay đổi đó không dừng ở công nghệ chế biến mà bắt đầu từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất nguồn gốc và khả năng kể câu chuyện văn hóa trà Việt ra thế giới.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, nghệ nhân Nguyễn Thị Hải, Chủ tịch HĐQT HTX Chè La Bằng, cho biết, yêu cầu lớn nhất hiện nay là giữ chất lượng ổn định và xây dựng niềm tin với người tiêu dùng. Bên cạnh đó, nếu muốn đi xa, chè Việt không thể sản xuất theo tư duy nhỏ lẻ như trước. Từ vùng nguyên liệu đến chế biến đều phải bảo đảm tiêu chuẩn an toàn, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Điểm tích cực là nhiều địa phương, đặc biệt là Thái Nguyên, đang chuyển mạnh sang phát triển theo chuỗi giá trị. Việc mở rộng diện tích VietGAP, hữu cơ, cấp mã số vùng trồng, phát triển sản phẩm OCOP và đẩy mạnh chuyển đổi số đang tạo nền tảng để chè Việt tiếp cận sâu hơn vào các thị trường cao cấp. Theo định hướng đến năm 2030, ngành chè đặt mục tiêu đạt giá trị xuất khẩu 1 tỷ USD thông qua phát triển chế biến sâu, bảo hộ chỉ dẫn địa lý và xây dựng thương hiệu gắn với văn hóa trà.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy nhận định, đây là mục tiêu không dễ, nhưng là hướng đi tất yếu nếu chè Việt muốn nâng vị thế trên thị trường toàn cầu. “Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay, người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm mà còn quan tâm đến câu chuyện phía sau sản phẩm đó. Với chè cũng vậy, lợi thế không còn nằm ở sản lượng mà ở khả năng tạo bản sắc và trải nghiệm”, ông Hoàng Trọng Thủy nói.

Chè Thái Nguyên có lợi thế lớn về danh tiếng, lịch sử và văn hóa trà. Nhưng nếu chỉ dừng ở việc bán nguyên liệu hoặc sản phẩm sơ chế thì khó tạo đột phá về giá trị. Điều thị trường quốc tế cần là những sản phẩm có tiêu chuẩn rõ ràng, bao bì hiện đại, truy xuất được nguồn gốc và mang theo câu chuyện văn hóa của vùng đất sản xuất.

Do đó, ngành chè phải chuyển từ tư duy “bán sản phẩm” sang “xây dựng thương hiệu”. Khi những búp chè Thái Nguyên không chỉ được biết đến bởi hương vị mà còn bởi câu chuyện về vùng đất, quy trình sản xuất sạch và văn hóa trà Việt, đó cũng là lúc chè Việt có thể bước ra thị trường thế giới bằng vị thế của một thương hiệu thực sự.

Hiện nay, nhiều địa phương ở Thái Nguyên đang triển khai mô hình liên kết chuỗi giá trị từ xây dựng vùng nguyên liệu an toàn, áp dụng VietGAP, GlobalGAP đến phát triển sản phẩm OCOP và hướng tới tiêu chuẩn hữu cơ. Đây được xem là nền tảng quan trọng để tạo ra những sản phẩm chè đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, việc gắn trà với du lịch trải nghiệm, văn hóa và thương mại điện tử cũng mở ra hướng đi mới cho ngành chè. Khi du khách có thể đến tận vùng nguyên liệu, trải nghiệm quy trình chế biến và hiểu hơn về văn hóa trà Việt, giá trị sản phẩm cũng được nâng lên theo cách bền vững hơn.

Ngày Chè thế giới 21/5 vì thế không chỉ là dịp tôn vinh cây chè hay người làm chè. Quan trọng hơn, đây là thời điểm để nhìn lại con đường phát triển của ngành chè Việt Nam trong bối cảnh mới. Một ngành hàng từng mạnh về sản lượng đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi để cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và giá trị văn hóa.

Con đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng khi tư duy sản xuất đã thay đổi, khi ngày càng nhiều doanh nghiệp lựa chọn chế biến sâu và xây dựng thương hiệu, ngành chè Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để bước ra thị trường thế giới bằng vị thế mới, không chỉ là nước xuất khẩu lớn mà còn là quốc gia có thương hiệu trà được nhận diện trên bản đồ toàn cầu.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Ngày Chè thế giới 21/5, không chỉ mang ý nghĩa tôn vinh một loại đồ uống có lịch sử hàng nghìn năm, mà còn đặt ra yêu cầu tái định vị ngành chè Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt.

Nguyễn Hạnh