Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, là không gian hội tụ những sắc màu văn hóa đặc sắc, nơi mỗi cộng đồng đều mang trong mình những giá trị riêng biệt, góp phần dệt nên nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc.
Nhân Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4), PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội đã có những chia sẻ về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Đồng thời làm rõ hơn những định hướng, giải pháp nhằm hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
Văn hóa các dân tộc không chỉ là di sản quý báu cần được gìn giữ, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Ảnh minh họa
Văn hóa dân tộc đã trở thành sinh kế, giáo dục cộng đồng
- Trong dòng chảy của đời sống đương đại, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của văn hóa dân tộc trong việc trở thành “sức mạnh mềm” của quốc gia, cũng như việc khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ bản sắc trong chính cộng đồng các dân tộc?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Văn hóa dân tộc là một phần rất đặc sắc của sức mạnh mềm Việt Nam. Bởi lẽ, chính sự phong phú trong thống nhất của 54 dân tộc anh em đã tạo nên chiều sâu văn minh Việt Nam, làm nên vẻ đẹp riêng mà không quốc gia nào có thể có được. Việc Thủ tướng Chính phủ quyết định lấy ngày 19/4 hàng năm là Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho thấy, Nhà nước nhìn nhận đây không chỉ là câu chuyện tôn vinh di sản, mà còn là củng cố khối đại đoàn kết và quảng bá giá trị văn hóa dân tộc trong đời sống đương đại.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, vai trò ấy càng nổi bật. Công nghệ số cho phép một làn điệu dân ca, lễ hội truyền thống, nghề thủ công, kho tàng tri thức dân gian từ bản làng xa xôi có thể hiện diện trên không gian mạng, đến với công chúng cả nước và bạn bè quốc tế. Nhưng điều sâu xa hơn, số hóa không chỉ để quảng bá ra ngoài, mà còn để gìn giữ vào bên trong.
Khi người trẻ trong cộng đồng nhìn thấy tiếng nói, chữ viết, trang phục, nhạc cụ, truyện kể, nghi lễ của dân tộc mình được trân trọng, đưa lên môi trường số bằng ngôn ngữ hiện đại, họ sẽ cảm nhận rõ hơn rằng, bản sắc của mình không hề lạc hậu, mà là một phần đáng tự hào của đất nước hôm nay. Chính sách của Đảng và Nhà nước những năm qua cũng luôn nhấn mạnh việc bảo vệ, làm giàu đa dạng văn hóa ở tất cả cộng đồng dân tộc, coi đây là nguồn lực nội sinh của phát triển bền vững.
- Nhân Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về những kết quả nổi bật của công tác văn hóa dân tộc thời gian qua?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng, điểm đáng mừng nhất trong giai đoạn 2021-2025, chúng ta không còn nhìn văn hóa các dân tộc thiểu số chỉ như một “di sản cần giữ”, mà đã dần nhìn nhận đó là một nguồn lực sống, một phần của năng lực phát triển quốc gia. Sự chuyển dịch này không chỉ thay đổi trong câu chữ, mà là trong tư duy quản lý, cách phân bổ nguồn lực, tổ chức chính sách và trong chính nhận thức xã hội.
Nền tảng pháp lý cho chuyển biến ấy được đặt trên các quyết sách lớn, trọng tâm là các nghị quyết của Quốc hội như Nghị quyết số 88/2019/QH14 và Nghị quyết số 120/2020/QH14 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Đây là lần đầu tiên, công tác dân tộc, trong đó có lĩnh vực văn hóa, được thiết kế thành một Chương trình mục tiêu quốc gia riêng, với mục tiêu tổng thể rõ ràng, nguồn lực tập trung và cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ.
Từ nền tảng đó, nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đã được phục hồi, tôn vinh, đưa trở lại đời sống cộng đồng. Quan trọng hơn, vai trò chủ thể của đồng bào từng bước được đề cao hơn trước. Không ít nơi, văn hóa không còn nằm trong bảo tàng hay trên sân khấu trình diễn nhất thời, mà đã trở thành một phần của sinh kế, giáo dục cộng đồng, phát triển du lịch, xây dựng nông thôn mới và quảng bá hình ảnh địa phương.
- Theo ông, đâu là những chuyển biến đáng chú ý trong việc khai thác các giá trị văn hóa để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, chuyển biến đáng chú ý nhất là việc nhiều địa phương đã bắt đầu biết “đọc” văn hóa như một tài sản phát triển. Trước đây, chúng ta thường nói đến bảo tồn với tâm thế giữ gìn những gì đang mai một. Nay, ở nhiều nơi, văn hóa đã được nhìn như một nguồn lực có thể tạo ra sinh kế, tạo ra việc làm, tạo ra niềm tin cộng đồng và cả vị thế cho địa phương.
Các dự án được thiết kế theo hướng đó, với nhiều nhóm nhiệm vụ cụ thể, từ khôi phục lễ hội, nghề thủ công, không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống, đến hỗ trợ xây dựng tủ sách cộng đồng, truyền dạy văn hóa, bảo tồn làng bản tiêu biểu, gắn với du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa. Chính ở điểm này, tác động kinh tế, xã hội của văn hóa trở nên rõ hơn. Khi một lễ hội được phục dựng đúng bản sắc, làn điệu dân ca được truyền dạy cho thế hệ trẻ; nghề dệt, nghề làm nhạc cụ, nghề thủ công được gắn với thị trường du lịch, văn hóa không chỉ được lưu giữ mà còn tạo ra thu nhập.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong bảo tồn văn hóa
- Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số hiện nay còn đang đối mặt với những khó khăn nào trong nỗ lực hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trước hết là điểm nghẽn về cơ chế. Dù chủ trương đã đúng và rất rõ, nhưng khi đi vào thực hiện, nhiều nơi vẫn còn lúng túng trong việc chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm phát triển bền vững. Cơ chế đầu tư cho văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn có lúc còn dàn trải, manh mún, nặng về hỗ trợ một lần mà thiếu những thiết kế dài hạn cho vận hành, truyền dạy, đào tạo đội ngũ kế cận và phát triển thị trường văn hóa địa phương.
Điểm nghẽn thứ hai là nguồn lực. Bảo tồn văn hóa không thể chỉ làm bằng nhiệt tình. Nó cần ngân sách, nhân lực am hiểu văn hóa cộng đồng, nghệ nhân được đãi ngộ xứng đáng, cơ sở vật chất phù hợp, cơ chế liên kết với giáo dục, du lịch, truyền thông, công nghệ. Trong khi đó, ở không ít nơi, nghệ nhân ngày càng cao tuổi, lớp trẻ ít mặn mà, điều kiện sinh sống còn nhiều khó khăn nên việc truyền dạy bị đứt gãy.
Một nguy cơ khác là thương mại hóa giản đơn. Nếu chỉ chạy theo du lịch, theo biểu diễn, theo “sản phẩm hóa” mà tách văn hóa khỏi môi trường sống tự nhiên của nó, chúng ta rất dễ làm mỏng đi chiều sâu bản sắc.
- Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa, cần những giải pháp trọng tâm nào để văn hóa các dân tộc thực sự trở thành động lực phát triển bền vững của đất nước, thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng, để văn hóa các dân tộc thiểu số thực sự trở thành động lực phát triển và nguồn lực nội sinh bền vững, cần tập trung vào một số hướng lớn.
Thứ nhất, phải quán triệt thật sâu tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW: văn hóa không đứng bên lề phát triển, mà ở trung tâm của phát triển. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, điều đó có nghĩa là mọi quy hoạch, chương trình, dự án phát triển phải lồng ghép yếu tố văn hóa ngay từ đầu, chứ không phải làm kinh tế xong rồi mới quay lại “vá” văn hóa.
Thứ hai, phải đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể thực sự. Nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín, phụ nữ, thanh niên trong cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải là người cùng thiết kế, cùng tổ chức, cùng hưởng lợi từ các hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa. Chính sách muốn bền vững thì phải nuôi dưỡng được lực lượng truyền dạy tại chỗ, hỗ trợ sinh kế văn hóa tại chỗ và tạo niềm tin rằng giữ gìn bản sắc cũng là giữ gìn tương lai của chính cộng đồng mình.
Thứ ba, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong bảo tồn và lan tỏa văn hóa dân tộc thiểu số. Số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu mở phù hợp, hỗ trợ truyền thông số, thương mại điện tử cho sản phẩm thủ công, du lịch cộng đồng, giáo dục văn hóa bằng nền tảng số sẽ giúp văn hóa bước vào đời sống hiện đại mà không bị tan loãng.
Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế tài chính, tăng đầu tư cho văn hóa, có chính sách đãi ngộ nghệ nhân, khuyến khích mô hình liên kết văn hóa, du lịch, giáo dục, công nghệ theo hướng bền vững.
- Xin cảm ơn ông!
Trong dòng chảy của đời sống đương đại, văn hóa dân tộc không chỉ là di sản quý báu cần được gìn giữ, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, tạo động lực cho phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.