Vị thế mới, trách nhiệm mới
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế tư nhân với những cam kết mạnh mẽ về bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, doanh nhân. Nhưng niềm tin phải được vun đắp từ hai phía. Khi Nhà nước cam kết kiến tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và an toàn, cộng đồng doanh nghiệp cũng đứng trước yêu cầu cao hơn về thượng tôn pháp luật, đạo đức kinh doanh, năng lực quản trị và trách nhiệm xã hội.
Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết số 68 xác định nhiệm vụ mang tính nền tảng là "tạo dựng, củng cố niềm tin giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, doanh nhân". Đồng thời, yêu cầu xây dựng "mối quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp cởi mở, thân thiện, đồng hành, liêm chính phục vụ, kiến tạo phát triển".
Ông Đặng Hồng Anh - Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam.
Từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp, ông Đặng Hồng Anh - Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cảm nhận rõ thay đổi trong cách nhìn nhận và ứng xử với doanh nhân. Những định kiến cũ về người làm kinh doanh đang dần nhường chỗ cho sự ghi nhận vai trò và đóng góp của doanh nghiệp đối với sự phát triển đất nước.
Theo ông, ý nghĩa sâu xa của Nghị quyết số 68 nằm ở thay đổi tư duy quản lý nhà nước, từ kiểm soát sang kiến tạo phát triển, từ coi doanh nghiệp là đối tượng quản lý sang xác lập quan hệ đồng hành giữa chính quyền và doanh nghiệp: "Tư duy làm luật đã chuyển từ "quản lý" sang "kiến tạo phát triển'" từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Đó không chỉ là sự thay đổi kỹ thuật lập pháp, đó là sự thay đổi trong cách Nhà nước nhìn doanh nghiệp không còn là đối tượng để canh chừng mà là đối tác để cùng kiến tạo tương lai quốc gia", ông nói và cho rằng, khi cách nhìn thay đổi, phương thức xây dựng chính sách và thực thi pháp luật cũng phải thay đổi tương ứng, lấy sự phát triển của doanh nghiệp làm một trong những thước đo hiệu quả quản trị.
Tuy nhiên, quyền được kinh doanh trong một môi trường thuận lợi hơn cũng đi liền với nghĩa vụ nâng cao năng lực và chuẩn mực hoạt động. Niềm tin từ chính sách mở ra cơ hội phát triển nhưng chính năng lực cạnh tranh, sự liêm chính trong kinh doanh và trách nhiệm với cộng đồng mới quyết định doanh nghiệp có xứng đáng với niềm tin đó hay không. Đó cũng là phép thử đối với đội ngũ doanh nhân Việt Nam khi kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
"Nghị quyết số 68 mở ra niềm tin lớn nhưng cũng đặt ra trách nhiệm lớn. Niềm tin là doanh nghiệp tư nhân có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, bình đẳng hơn, được khơi thông nguồn lực nhiều hơn. Trách nhiệm là doanh nghiệp phải lớn hơn về tầm nhìn, chuẩn hóa hơn về quản trị, minh bạch hơn về hoạt động, bền vững hơn về mô hình kinh doanh và trách nhiệm hơn với xã hội, cộng đồng, người lao động, môi trường", Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam nhấn mạnh.
Thượng tôn pháp luật, đạo đức kinh doanh
Trách nhiệm của doanh nghiệp trước hết bắt đầu từ ý thức thượng tôn pháp luật và đạo đức kinh doanh. Đây cũng là nội dung được TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đặc biệt nhấn mạnh khi bàn về tinh thần của Nghị quyết số 68.
Theo ông, khi Đảng và Nhà nước ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và kiến tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, câu hỏi cần đặt ra ở chiều ngược lại là doanh nghiệp phải làm gì để đáp lại sự tin tưởng và những điều kiện phát triển đó?
“Doanh nghiệp phải thượng tôn pháp luật, đề cao đạo đức kinh doanh. Đây là điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 68 nhưng chưa được nhấn mạnh đúng mức trong quá trình nhận diện trách nhiệm của khu vực kinh tế tư nhân", TS. Cấn Văn Lực khẳng định.
TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia.
Nghị quyết số 68 dành riêng một nhóm nhiệm vụ để "đề cao đạo đức kinh doanh, phát huy trách nhiệm xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần kinh doanh". Trong đó, yêu cầu "xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hoá kinh doanh, trung thực, thanh liêm, trách nhiệm xã hội, gắn với bản sắc dân tộc" và xác định rõ nguyên tắc: "Lấy đạo đức, văn hoá kinh doanh làm cốt lõi, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật."
Những yêu cầu này đặt đạo đức kinh doanh vào vị trí nền tảng trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân. Quyền tự do kinh doanh, cơ hội tiếp cận nguồn lực và khát vọng làm giàu phải gắn với nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, sự trung thực trong hoạt động kinh tế và trách nhiệm đối với xã hội. Đạo đức kinh doanh cũng phải được thể hiện bằng những chuẩn mực cụ thể trong quản trị và điều hành doanh nghiệp, thay vì dừng lại ở những tuyên bố mang tính nguyên tắc.
Từ trải nghiệm của người trực tiếp gây dựng doanh nghiệp, ông Trần Văn Lê - Chủ tịch Tập đoàn Cơ điện Phương Linh cũng đặt tri thức và đạo đức vào vị trí quyết định đối với sự nghiệp kinh doanh. "Làm giàu là phải có trí tuệ, mà làm giàu bền vững thì trí tuệ cộng đạo đức", ông đúc kết.
Theo ông, sòng phẳng là phẩm chất cần có của người làm kinh tế thị trường. Doanh nhân muốn thành công phải có kiến thức, hiểu pháp luật, nắm vững chủ trương, chính sách và đủ năng lực nhận diện những rủi ro trong quá trình đầu tư, kinh doanh. Với thế hệ doanh nhân trẻ, đặc biệt là những người khởi nghiệp, khát vọng làm giàu cần được đặt trên nền tảng hiểu biết và tinh thần trách nhiệm, thay vì chỉ dựa vào nhiệt huyết hay cơ hội trước mắt. Tuy nhiên, ông Trần Văn Lê cũng nhấn mạnh trách nhiệm tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp cần đi cùng trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ của cơ quan quản lý.
Một trong những biểu hiện cụ thể nhất của tinh thần thượng tôn pháp luật và đạo đức kinh doanh là trung thực, minh bạch trong quản trị tài chính. Đây cũng là vấn đề có quan hệ trực tiếp với khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân. Phân tích những khó khăn trong tiếp cận tín dụng, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ cả 3 phía: hệ thống pháp luật còn phức tạp, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục cải thiện quy trình và bản thân doanh nghiệp cũng phải thay đổi phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thông tin tài chính.
Ông thẳng thắn đề cập tình trạng thiếu minh bạch trong sổ sách kế toán, coi đây là một rào cản đối với việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng: "Phải công khai, phải minh bạch hơn, không thể có 3 sổ sách để chúng ta đi vay ngân hàng được… 1 sổ, chính xác, công khai minh bạch".
Theo TS. Cấn Văn Lực, doanh nghiệp muốn tiếp cận tín dụng dựa trên dòng tiền thì trước hết phải bảo đảm dòng tiền được ghi nhận trung thực, phản ánh đúng hoạt động kinh doanh và có căn cứ kiểm chứng. "Chúng ta muốn cho vay theo dòng tiền thì dòng tiền phải công khai minh bạch, dòng tiền phải chính xác!", ông nhấn mạnh.
Từ câu chuyện sổ sách kế toán, yêu cầu nâng cao chuẩn mực quản trị của khu vực kinh tế tư nhân càng trở nên cấp thiết. Để tiếp cận nguồn vốn lớn, mở rộng quy mô sản xuất, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải xây dựng nền tảng tài chính minh bạch, hệ thống quản trị chuyên nghiệp và củng cố uy tín với các đối tác.
Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do kinh doanh và kiến tạo môi trường phát triển thuận lợi. Tuy nhiên, niềm tin của thị trường, ngân hàng và các đối tác phải được doanh nghiệp gây dựng bằng chính sự trung thực, năng lực quản trị và ý thức tuân thủ pháp luật. Đây là nền tảng để khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững, khẳng định vị thế và đáp ứng kỳ vọng mà Nghị quyết số 68 đã đặt ra.
Nghị quyết số 68-NQ/TW được kỳ vọng tạo bước ngoặt chiến lược cho kinh tế tư nhân, củng cố niềm tin và mở rộng không gian phát triển của cộng đồng doanh nghiệp. Ra đời trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đang tái cấu trúc và Việt Nam đứng trước cơ hội nâng cao vị thế, Nghị quyết mở ra triển vọng về một giai đoạn bứt phá mới. Tuy nhiên, để kỳ vọng về một "thập kỷ vàng" của kinh tế tư nhân trở thành hiện thực, yếu tố quyết định nằm ở chất lượng thực thi chính sách, năng lực cạnh tranh và sự chủ động đổi mới của chính doanh nghiệp.