Đóng

Nghị quyết 79-NQ/TW: Hình thành 'sếu đầu đàn' dẫn dắt tăng trưởng

Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị được kỳ vọng mở ra cơ hội lớn để doanh nghiệp nhà nước vươn tầm toàn cầu, thực sự phát huy vai trò dẫn dắt tăng trưởng.

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước như một "cú hích thể chế" mang tính chiến lược, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ đã phân tích ý nghĩa, cách tiếp cận mới đối với doanh nghiệp nhà nước và những điều kiện để khu vực này thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt của nền kinh tế.

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ.

Cú hích chiến lược

- Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của thời điểm ban hành cũng như vai trò của Nghị quyết 79 đối với việc định hình tư duy và định hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn tới?

TS.Võ Trí Thành: Đây là lần đầu tiên Đảng ban hành một nghị quyết với cách tiếp cận đủ rộng và tương đối toàn diện về kinh tế nhà nước. Việc ban hành Nghị quyết 79 vào đầu năm 2026, ngay trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng.

Nghị quyết thể hiện tầm nhìn dài hạn về mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới. Có thể coi đây không đơn thuần là một nghị quyết chuyên đề mà là một tuyên ngôn định hướng, định hình con đường phát triển kinh tế trong 5 năm tới và tạo nền tảng cho việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2045.

Nghị quyết bao quát hai khía cạnh rất quan trọng. Thứ nhất là vấn đề quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực do Nhà nước đại diện sở hữu. Ở đây, Nhà nước được nhìn nhận với tư cách là người đại diện của quốc gia trong quản lý các nguồn lực công như đất đai, tài chính, ngân sách và các tài sản công khác. Trọng tâm không chỉ là nắm giữ mà là tổ chức quản trị các nguồn lực đó sao cho hiệu quả, minh bạch và phục vụ mục tiêu phát triển.

Thứ hai là vai trò của Nhà nước với tư cách chủ sở hữu trong các hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Nội dung này bao trùm từ các tổ chức sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục, y tế đến khu vực doanh nghiệp nhà nước. Có thể nói, nghị quyết đã đưa ra một cái nhìn bao quát đối với toàn bộ những lĩnh vực cấu thành khu vực kinh tế nhà nước.

Một điểm được xã hội đặc biệt quan tâm là cách nghị quyết tiếp cận vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết không đặt doanh nghiệp nhà nước trong vai trò dẫn dắt dàn trải mà xác định rõ doanh nghiệp nhà nước chỉ giữ vị trí then chốt trong những lĩnh vực chiến lược, hệ trọng của quốc gia. Cách tiếp cận này không phải là ngoại lệ của Việt Nam mà phù hợp với xu hướng chung của nhiều quốc gia, nhất là trong các chiến lược nâng cao tự chủ, tăng cường năng lực chống chịu và bảo đảm chủ quyền công nghệ, đổi mới sáng tạo.

- Nghị quyết đặt mục tiêu đến giai đoạn tới sẽ có từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Ông đánh giá như thế nào về tính khả thi của mục tiêu này?

TS.Võ Trí Thành: Tôi cho rằng mục tiêu này là khả thi. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc doanh nghiệp đứng ở vị trí nào trên bảng xếp hạng, dù đó là một thước đo cần thiết, mà nằm ở những thay đổi thực chất phía sau thứ hạng ấy.

Việc lọt vào Top 500 thế giới chỉ có ý nghĩa khi nó phản ánh đúng nỗ lực cải cách thể chế, cách tiếp cận mới của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và đặc biệt là năng lực tự đổi mới của chính các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.

Để được cộng đồng quốc tế thừa nhận, hành trình vươn lên của doanh nghiệp nhà nước phải là một quá trình bền bỉ, dài hạn, gắn với chuẩn mực quản trị hiện đại, hiệu quả kinh doanh thực chất và khả năng cạnh tranh toàn cầu. Những yếu tố đó quan trọng hơn nhiều so với việc đạt được một vị trí cụ thể trên bảng xếp hạng.

Sự lớn mạnh phải diễn ra một cách toàn diện, từ trình độ công nghệ, mô hình quản trị, năng lực điều hành đến xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm. Trước mắt, các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy khai thác lợi thế sẵn có sang tư duy tạo lập lợi thế công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển không còn là một lựa chọn mang tính bổ trợ mà trở thành điều kiện sống còn.

Cùng với đó, Việt Nam cần chủ động hình thành các trung tâm nghiên cứu của người Việt tại những trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới nhằm hấp thụ, làm chủ và lan tỏa các tri thức tiên tiến, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh dài hạn.

Nghị quyết 79 chính là nền tảng quan trọng giúp khu vực doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty quy mô lớn đang hoạt động hiệu quả, bứt phá và thật sự trở thành " sếu đầu đàn" vươn tầm toàn cầu, dẫn dắt tăng trưởng. 

Các doanh nghiệp nhà nước được kỳ vọng trở thành những "sếu đầu đàn" đủ năng lực vươn tầm khu vực, lan tỏa động lực tăng trưởng cho toàn bộ nền kinh tế - Ảnh minh họa

Lan tỏa động lực tăng trưởng

- Nghị quyết 79 đề cập đến vai trò chủ đạo dẫn dắt của các cuộc doanh nghiệp nhà nước, theo ông nên hiểu như thế nào?

TS.Võ Trí Thành: Khi nói vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước hiện nay không nên hiểu theo nghĩa doanh nghiệp nhà nước phải chiếm tỷ trọng tuyệt đối lớn trong nền kinh tế. Quy mô và nguồn lực lớn là yếu tố quan trọng nhưng không phải là tiêu chí quyết định. Cốt lõi của vai trò chủ đạo nằm ở chất lượng và năng lực dẫn dắt.

Trước hết, doanh nghiệp nhà nước phải có tâm thế dẫn dắt, thể hiện qua việc xây dựng thương hiệu quốc tế, làm chủ và tiến tới sáng tạo công nghệ, coi đổi mới sáng tạo là trụ cột phát triển. Đây mới là nền tảng để doanh nghiệp nhà nước tạo được vị thế và uy tín trên thị trường khu vực và toàn cầu.

Thứ hai, vai trò chủ đạo phải được thể hiện bằng khả năng lan tỏa tích cực. Sự lan tỏa này không chỉ giới hạn trong nội bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước mà phải mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhà nước cần đóng vai trò hạt nhân liên kết, tạo điều kiện để các doanh nghiệp khác cùng tham gia chuỗi giá trị, cùng phát triển, bổ trợ cho nhau, chứ không phải chèn lấn hay loại trừ.

Thứ ba, tất cả những vai trò đó chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp nhà nước được đặt trong môi trường cạnh tranh thị trường thực chất. Doanh nghiệp nhà nước phải chấp nhận cạnh tranh, chịu áp lực hiệu quả, minh bạch và kỷ luật thị trường. Chỉ khi vừa dẫn dắt được, vừa tạo sức lan tỏa, lại vừa cạnh tranh bình đẳng thì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước mới đúng với tinh thần Nghị quyết 79.

- Khi Nghị quyết 79 ban hành, có ý kiến lo ngại khu vực kinh tế nhà nước sẽ lấn áp khu vực kinh tế tư nhân. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?

TS.Võ Trí Thành: Tôi cho rằng, những lo ngại này không chỉ tồn tại trong nước mà cả quốc tế cũng quan tâm. Bởi quá trình cải cách theo định hướng thị trường ở Việt Nam luôn gắn chặt với cải cách doanh nghiệp nhà nước. Cách chúng ta tổ chức, quản trị và phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước chính là một chỉ báo quan trọng để bên ngoài đánh giá liệu cải cách thị trường của Việt Nam có thực chất, có nhất quán và có đáng tin cậy hay không.

Trên thực tế, việc lựa chọn duy trì doanh nghiệp nhà nước không phải là điều riêng có của Việt Nam. Nhiều quốc gia vẫn có doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nhất định. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc có hay không có doanh nghiệp nhà nước mà là doanh nghiệp nhà nước được đặt ở đâu và vận hành theo nguyên tắc nào.

Ở điểm này, Nghị quyết 79 đã thể hiện rõ quan điểm doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng nhưng được giới hạn trong những lĩnh vực thiết yếu, chiến lược, phù hợp với điều kiện lịch sử và lựa chọn phát triển của Việt Nam.

Để tránh nguy cơ lấn át khu vực tư nhân, theo tôi có hai yêu cầu then chốt. Thứ nhất là minh bạch, đặc biệt là tách bạch rõ ràng giữa nhiệm vụ chính trị, xã hội với hoạt động kinh doanh thuần túy, bảo đảm đánh giá hiệu quả trên cơ sở thị trường. Thứ hai là buộc doanh nghiệp nhà nước phải chấp nhận cạnh tranh thực chất, chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh như các doanh nghiệp khác.

Trong bối cảnh doanh nghiệp lớn thường kéo theo hệ sinh thái, điều quan trọng là các liên kết này phải mang tính mở, không loại trừ doanh nghiệp nhỏ và vừa hay khu vực tư nhân, để họ vẫn có không gian tham gia, phát huy tính linh hoạt và sáng tạo. Ngược lại, cần kiểm soát và hạn chế nguy cơ chèn lấn từ lợi thế quy mô và vị thế.

Xin cảm ơn ông!

Sự đóng góp to lớn từ các doanh nghiệp nhà nước như một "công cụ" của Nhà nước đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây với GDP năm 2025 đạt mức tăng trưởng 8,02%, trong đó, doanh nghiệp nhà nước đóng góp xấp xỉ 30% tổng GDP cả nước.

Nguyên Thảo (thực hiện)