Kiến tạo năng lực nội sinh
Sau gần 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, xuất khẩu và hội nhập quốc tế. Với hơn 46.500 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký trên 543 tỷ USD, khu vực này hiện đóng góp hơn 20% GDP và khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu. Những con số đó cho thấy FDI đã góp phần mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Ảnh: Quochoi.vn
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển hiện nay đã khác trước, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh công nghệ, yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tự chủ chiến lược đang đặt ra những chuẩn mực mới trong thu hút đầu tư. Việt Nam không thể chỉ nhìn FDI qua quy mô vốn đăng ký, số lượng dự án hay kim ngạch xuất khẩu. Câu hỏi lớn hơn là dòng vốn đó để lại gì cho nền kinh tế: công nghệ nào được chuyển giao, doanh nghiệp trong nước tham gia được đến đâu, năng suất lao động tăng lên thế nào và năng lực cạnh tranh quốc gia được bồi đắp ra sao?
Vì vậy, yêu cầu đặt ra không còn là thu hút nhiều vốn hơn mà là thu hút đúng dòng vốn, đúng nhà đầu tư, đúng lĩnh vực và đúng mục tiêu phát triển. Đó phải là dòng vốn góp phần nâng cao năng lực nội sinh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hình thành chuỗi giá trị mới và củng cố sức tự chủ của nền kinh tế... Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và là điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, trong giai đoạn trước, mục tiêu thu hút FDI của Việt Nam chủ yếu là bổ sung nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Khi đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn Việt Nam nhờ lợi thế lao động giá rẻ, chi phí sản xuất cạnh tranh và môi trường đầu tư ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ những giới hạn nhất định khi công nghệ được chuyển giao chưa thật sự tiên tiến, mức độ lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước còn thấp.
"Nếu vẫn duy trì phương thức thu hút FDI như trước đây, khu vực doanh nghiệp trong nước sẽ mãi chỉ đứng bên cạnh khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Người lao động trong nước cũng chỉ tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng thấp, không tạo ra được sự bứt phá về năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế", GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.
GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam - Ảnh: Thảo Bùi
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, khu vực FDI đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào xuất khẩu, tăng trưởng GDP và tạo việc làm. Dù vậy, sự kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước vẫn còn lỏng lẻo. Không ít doanh nghiệp nội địa chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành công nghiệp chủ lực còn thấp.
Từ thực tiễn đó, ông cho rằng Việt Nam cần chuyển sang thu hút đầu tư thế hệ mới. Trọng tâm phải hướng tới tiếp nhận công nghệ, tri thức quản trị tiên tiến và tạo ra sự lan tỏa thực chất giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu cuối cùng là hình thành một nền kinh tế thống nhất, trong đó doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực đồng hành cùng doanh nghiệp FDI thay vì tồn tại như hai khu vực tách rời.
Chọn lọc để bứt phá
Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Lý - nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, nhìn lại tiến trình đổi mới có thể thấy, tư duy thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đã trải qua những bước chuyển quan trọng. Ở giai đoạn đầu, khi nền kinh tế còn thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu kinh nghiệm quản trị và cần mở rộng không gian phát triển, việc mở cửa để thu hút các nguồn lực từ bên ngoài là lựa chọn có ý nghĩa chiến lược.
Dòng vốn FDI trong giai đoạn đó đã góp phần bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, mở rộng xuất khẩu và giúp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
PGS.TS Lê Quốc Lý - nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Ảnh: Thành An.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Lê Quốc Lý, trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đã khác. Vấn đề không còn dừng ở việc thu hút được bao nhiêu vốn đầu tư, có thêm bao nhiêu dự án hay mở rộng bao nhiêu nhà máy mà là Việt Nam chuyển hóa được bao nhiêu giá trị từ dòng vốn đó thành năng lực cạnh tranh thực chất của nền kinh tế.
PGS.TS Lê Quốc Lý nhấn mạnh, đây là tư duy phát triển đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng, năng lực nội sinh, đổi mới sáng tạo và tự chủ chiến lược. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên công nghệ, dữ liệu, năng lực quản trị và khả năng làm chủ chuỗi giá trị, một nền kinh tế nếu chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hoặc ưu đãi đầu tư sẽ khó duy trì sức cạnh tranh lâu dài.
Vì vậy, phát triển khu vực FDI cần hướng tới mục tiêu hình thành năng lực nội sinh, thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước, nâng cao hàm lượng công nghệ, gia tăng giá trị tạo ra tại Việt Nam và đóng góp thực chất hơn cho sức mạnh của nền kinh tế.
Theo TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội tài chính khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính), để thực hiện thành công các mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 10, trước hết cần nhận diện đầy đủ những cơ hội và thách thức đang đặt ra từ cả bối cảnh quốc tế lẫn yêu cầu phát triển nội tại của nền kinh tế.
Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những chuyển động rất nhanh của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển dịch năng lượng... Đây không còn là những xu hướng xa vời mà đã trở thành các trục cạnh tranh mới, chi phối cách thức phân bổ dòng vốn đầu tư toàn cầu.
TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội tài chính khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài
Cùng đó, các tập đoàn đa quốc gia đang đẩy mạnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất và ưu tiên những quốc gia có môi trường chính trị ổn định, thể chế minh bạch, hạ tầng đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao. Những thay đổi này mở ra cơ hội lớn để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, song cũng đặt ra sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trong thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Ở trong nước, Việt Nam đã bước sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2035 và trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nền kinh tế không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác lao động giá rẻ hay gia tăng sản lượng theo chiều rộng.
"Yêu cầu cấp thiết hiện nay là chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, lựa chọn được dòng vốn FDI phù hợp hơn và tạo động lực phát triển bền vững trong giai đoạn mới", TS. Phan Hữu Thắng nhấn mạnh.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu 75% vốn đến từ các nền kinh tế phát triển; tăng 30% số lượng tập đoàn thuộc danh sách Fortune 500 hiện diện tại Việt Nam; thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở văn phòng và trung tâm R&D tại Việt Nam.