Đóng

Nghị quyết số 19-NQ/TW: Mở lối cho kinh tế Việt Nam bứt phá

Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt mục tiêu đổi mới toàn diện mô hình phát triển, tạo nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia phát triển...

Tạo bước chuyển về "chất"

Sau 40 năm Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển mạnh về quy mô, năng lực sản xuất và mức độ hội nhập. Từ một nền kinh tế kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao và trở thành một nền kinh tế có độ mở lớn.

Theo số liệu của Cục Thống kê, GDP năm 2025 tăng 8,02%, đạt 514 tỷ USD. GDP bình quân đầu người đạt 125,5 triệu đồng, tương đương 5.026 USD, mức thu nhập này vượt ngưỡng 4.636 USD - tiêu chí để được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao theo phân loại mới của World Bank. Cùng với tăng trưởng kinh tế, quá trình hội nhập tạo ra bước tiến lớn về thương mại. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 930 tỷ USD. Việt Nam tiếp tục duy trì xuất siêu và nằm trong nhóm những nền kinh tế thương mại lớn trên thế giới.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. 7 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, cao nhất từ năm 2019 đến nay. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%.

Vốn FDI đăng ký 7 tháng đạt 38,06 tỷ USD, tăng 50,9%; vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Đáng chú ý, trong tổng vốn FDI được giải ngân, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm ưu thế với gần 13 tỷ USD (chiếm gần 83% tổng vốn thực hiện).

Sau 40 năm, sự nghiệp đổi mới đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Duy Bình - Chuyên gia kinh tế, giám đốc Economica Việt Nam nhận định, những con số trên cho thấy nền tảng được tích lũy qua 40 năm Đổi mới đang tạo thế và lực mới cho phát triển. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn mới, bài toán đặt ra đã thay đổi, mục tiêu phát triển cao hơn đồng nghĩa phương thức tạo ra tăng trưởng cũng phải thay đổi tương ứng.

Bối cảnh quốc tế cũng làm yêu cầu chuyển đổi trở nên cấp thiết hơn, cạnh tranh ngày càng dựa nhiều vào công nghệ, năng suất, nguồn nhân lực và khả năng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao. Vì vậy, nền kinh tế muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài phải đồng thời nâng được chất lượng của tăng trưởng.

Trong bối cảnh đó, ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Trung ương ban hành một nghị quyết chuyên đề về mô hình phát triển quốc gia, xác lập hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể nhằm tạo lập mô hình phát triển phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới với những mốc mục tiêu cụ thể cho năm 2030, 2035 và 2045.

Theo đó, đến năm 2030, mục tiêu hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ của một nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.

Đến năm 2045, "hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững, hội nhập và các mô hình thành phần trên các lĩnh vực được vận hành đồng bộ, hài hoà, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng".

Nâng sức mạnh nội sinh

Nhìn nhận về tầm vóc của Nghị quyết số 19-NQ/TW, GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, Nghị quyết thể hiện bước phát triển mới trong tư duy về mô hình phát triển đất nước. Nghị quyết không tiếp cận phát triển theo từng lĩnh vực riêng biệt mà đặt các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế và quản trị quốc gia trong một chỉnh thể thống nhất.

Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới khi mục tiêu của Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao hơn. Để đạt được mục tiêu đó, từng lĩnh vực không thể vận hành tách rời mà phải có sự kết nối, bổ trợ và tạo động lực cho nhau.

Vị chuyên gia cho rằng, trong bảy mô hình thành phần được xác định, kinh tế giữ vai trò nền tảng tạo nguồn lực cho quá trình phát triển. Vì vậy, việc Nghị quyết xác định mô hình kinh tế theo hướng hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây cũng là sự thay đổi căn bản về chất trong cách thức tổ chức và vận hành nền kinh tế.

Ông phân tích, nếu hiệu quả cao là yêu cầu đối với việc phân bổ và sử dụng nguồn lực thì sáng tạo phản ánh khả năng tạo ra những giá trị mới. Yếu tố xanh đặt phát triển kinh tế trong yêu cầu bảo đảm tính bền vững. Tính tự chủ gắn với năng lực làm chủ các nguồn lực và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Tính bao trùm hướng tới việc bảo đảm thành quả phát triển được lan tỏa rộng hơn trong xã hội. Trong khi đó, hội nhập tiếp tục là điều kiện để nền kinh tế mở rộng không gian phát triển và tham gia sâu hơn vào các quá trình kinh tế quốc tế.

"Yêu cầu đổi mới mô hình phát triển trong giai đoạn mới không nằm ở một lĩnh vực riêng lẻ. Cốt lõi là tạo ra sự chuyển động đồng bộ của cả hệ thống, trong đó kinh tế giữ vai trò nền tảng về nguồn lực và các lĩnh vực còn lại cùng góp phần tạo nên chất lượng, tính bền vững và sức mạnh tổng thể của mô hình phát triển", GS.TS Hoàng Văn Cường nói.

Nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển mạnh mô hình phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và sức mạnh nội sinh của nền kinh tế, GS. Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, vấn đề quan trọng trong giai đoạn tới không đơn thuần là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà phải xác định tăng trưởng dựa trên động lực nào, tạo ra giá trị ra sao và có bền vững hay không.

Theo ông, nếu GDP tăng nhưng giá trị gia tăng nội địa còn thấp, năng lực của doanh nghiệp trong nước chưa được cải thiện và lợi nhuận tiếp tục chảy ra bên ngoài thì sức bật nội sinh của nền kinh tế chưa được củng cố tương xứng. Vì vậy, tăng trưởng cần hướng tới giữ lại nhiều giá trị hơn trong nền kinh tế, nâng hàm lượng công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa và cải thiện năng suất lao động một cách bền vững.

Từ yêu cầu đó, ông cho rằng cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Ba nhóm động lực có tính nền tảng gồm cải cách thể chế và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh; phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong nước đủ sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và làm chủ công nghệ; thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, hướng dòng vốn vào sản xuất, hạ tầng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những ngành có khả năng lan tỏa năng suất. Theo ông, thước đo cuối cùng của đổi mới sáng tạo phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, năng suất tăng lên, doanh nghiệp lớn mạnh hơn và giá trị gia tăng thực sự được tạo ra trong nền kinh tế.

Từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào lao động giá rẻ và khai thác các nguồn lực sẵn có, Việt Nam đang chuyển mạnh sang dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Nguyên Thảo