Giữa mây núi Suối Giàng quanh năm phủ sương, những gốc chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi vẫn bền bỉ sinh trưởng như một phần linh hồn của vùng cao Tây Bắc. Ít ai biết rằng, đã có thời điểm loại cây từng được xem là “cây vàng” của núi rừng đứng trước nguy cơ bị chặt bỏ vì giá chè lao dốc, đời sống người dân khó khăn. Chính trong giai đoạn ấy, bà Lâm Thị Kim Thoa – Giám đốc Hợp tác xã Chè Suối Giàng (xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai) đã lựa chọn ở lại, gắn bó và hồi sinh vùng chè quý bằng sự kiên trì hiếm có.
Bà Lâm Thị Kim Thoa – Giám đốc Hợp tác xã Chè Suối Giàng (xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai). Ảnh: NVCC
Xây dựng thương hiệu chè từ...4 không
Bén duyên với cây chè từ những năm 2000, bà Thoa hiểu rằng làm trà không đơn thuần là một nghề mà là hành trình sống cùng cây chè mỗi ngày. “Làm trà không thể tính chuyện một năm, hai năm mà phải sống cùng cây chè, ngấm hương trà thì mới đi đường dài được”, bà Thoa chia sẻ.
Năm 2007, khi giá chè xuống thấp, nhiều hộ dân người Mông tại Suối Giàng từng có ý định phá bỏ chè để chuyển đổi sang cây trồng khác. Trong hoàn cảnh ấy, Hợp tác xã Chè Suối Giàng được thành lập tại một vùng đặc biệt khó khăn, nơi 98% dân số là người Mông, giao thông cách trở, trình độ dân trí còn hạn chế và nhiều người chưa thông thạo tiếng phổ thông.
Nhớ lại những ngày đầu, bà Thoa cho biết hợp tác xã khi ấy gần như bắt đầu từ con số không. “Chúng tôi bước vào nghề với “4 không”: Không có nguồn lực tài chính, không có nhân lực kỹ thuật chế biến chè, không có mặt bằng xây dựng nhà xưởng và cũng không có kinh nghiệm quản lý”, bà nói.
"Thế nhưng, đi cùng với “4 không” là “4 quyết”: Quyết lấy lại thương hiệu chè Suối Giàng, quyết xây dựng đội ngũ lao động bản địa, quyết giữ gìn vùng chè quý và quyết không lùi bước”, bà chia sẻ thêm.
Khó khăn lớn nhất khi ấy là thiếu nhân lực kỹ thuật sản xuất và chế biến trà. Người dân địa phương vốn chỉ quen hái chè tươi, chưa có kiến thức chế biến, tỷ lệ mù chữ cao, đời sống còn nhiều hạn chế. “Có người từng nói: ‘Trà toàn người Mông làm thì uống ra cái gì!’. Câu nói ấy vừa là áp lực nhưng cũng trở thành động lực để chúng tôi quyết tâm làm bằng được”, bà Thoa nhớ lại.
Để tháo gỡ bài toán nhân lực, hợp tác xã đã mời những người có kinh nghiệm về trà trực tiếp hướng dẫn, đào tạo theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, đồng thời đưa lao động đi giao lưu, học hỏi tại các nhà máy chế biến khác.
Không chỉ kiên trì giữ nghề, bà Thoa còn theo đuổi triết lý làm trà bằng sự thấu hiểu và tận tâm. Theo bà, người làm trà phải huy động tất cả giác quan trong từng công đoạn sản xuất.
“Làm trà cần mắt để quan sát sự chuyển động của cánh trà, tay để kiểm soát nhiệt, mũi để kiểm soát hương và miệng để kiểm soát vị. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái tâm của người làm trà, không vì lợi nhuận mà đánh tráo chất lượng”, bà Thoa nhấn mạnh.
Sản phẩm trà của Hợp tác xã Suối Giàng được giới thiệu tại lễ hội trà Shan tuyết. Ảnh: NVCC
Đưa công nghệ số lên đỉnh núi chè Shan tuyết
Không dừng lại ở việc bảo tồn vùng chè cổ thụ, Hợp tác xã Chè Suối Giàng còn là một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ số vào truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Theo bà Thoa, để giữ gìn và bảo vệ thương hiệu chè Suối Giàng trong khi cạnh tranh ngày càng lớn, chỉ sự tâm huyết thôi là chưa đủ. “Phải có công nghệ kỹ thuật hỗ trợ”, bà khẳng định.
Từ suy nghĩ đó, hợp tác xã đã mạnh dạn đề xuất việc định vị vùng chè bằng công nghệ số, xây dựng hệ thống mã QR truy xuất nguồn gốc và hướng tới phát triển vùng chè hữu cơ. Hiện nay, các sản phẩm trà của hợp tác xã đều được dán tem truy xuất nguồn gốc, nhiều cây chè cổ thụ đã được thí điểm gắn mã QR riêng.
Một gốc trà Suối Giàng có gắn mã QR riêng. Ảnh: NVCC
Theo bà Thoa, việc truy xuất tới từng gốc chè không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo dựng niềm tin nhanh hơn giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Công nghệ số cũng giúp thương hiệu chè Suối Giàng lan tỏa mạnh mẽ hơn so với phương thức quảng bá truyền thống trước đây.
“Công nghệ số là công cụ hữu dụng để kết nối niềm tin. Khi người tiêu dùng biết rõ nguồn gốc sản phẩm, họ sẽ yên tâm hơn về chất lượng và giá trị của trà”, bà nói.
Hiện Suối Giàng có hơn 500 ha chè, trong đó trên 300 ha là chè cổ thụ có tuổi đời từ hàng trăm đến hàng nghìn năm. Vùng chè này đã được công nhận chỉ dẫn địa lý, nhiều sản phẩm OCOP đạt từ 3 đến 4 sao và đang hướng tới chuẩn 5 sao.
Theo kỳ vọng của bà Thoa, trong 5 -10 năm tới, trà Shan tuyết Suối Giàng không chỉ được biết đến như một đặc sản vùng cao mà còn trở thành thương hiệu trà quốc gia, có mặt trong các dòng quà tặng ngoại giao, du lịch cao cấp và các kênh xuất khẩu chọn lọc.
“Cây chè giờ không còn là cây xóa đói giảm nghèo nữa mà thực sự là cây làm giàu cho bà con”, bà Thoa chia sẻ.
Bà cũng tin rằng khi thương hiệu trà Suối Giàng được nâng tầm, giá trị sản phẩm có thể tăng thêm từ 30–50% so với hiện nay, qua đó giúp người dân địa phương có thu nhập ổn định, phát triển du lịch cộng đồng và giảm tình trạng lao động phải rời quê đi làm ăn xa.
Một gốc chè Shan tuyết Suối Giàng. Ảnh: Nguyễn Hương
Giữa nhịp chuyển mình của vùng cao, những gốc chè Shan tuyết cổ thụ ở Suối Giàng hôm nay không chỉ lưu giữ hương vị của núi rừng Tây Bắc mà còn mang theo khát vọng xây dựng một thương hiệu trà Việt vươn xa bằng chính tâm huyết của những người gìn giữ nghề.
Chè Shan Tuyết Suối Giàng hiện có hơn 500 ha diện tích trồng, trong đó trên 300 ha là chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Sản phẩm đã được cấp chỉ dẫn địa lý “Chè Shan Tuyết Suối Giàng”, áp dụng truy xuất nguồn gốc bằng mã QR tới từng gốc chè.