Đóng

Người ‘thổi hồn’ cỏ bàng xứ Huế

Hành trình của chị Hồ Thị Sương Lan đang mở ra hướng phát triển bền vững cho cỏ bàng xứ Huế, gắn di sản với giá trị kinh tế và sinh kế làng nghề.

Từ những trăn trở về nguy cơ mai một của các giá trị thủ công bản địa, chị Hồ Thị Sương Lan - Giám đốc, nhà sáng lập Công ty TNHH Maries đã lựa chọn hành trình làm mới cỏ bàng Huế truyền thống theo hướng hiện đại, gia tăng tính ứng dụng và giá trị thị trường. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, chị cho biết mục tiêu không chỉ là phát triển sản phẩm mà còn góp phần gìn giữ di sản và tạo sinh kế bền vững cho người dân làng nghề.

Từ trăn trở di sản đến hành trình làm mới cỏ bàng xứ Huế

PV: Điều gì khiến chị quyết tâm theo đuổi việc phát triển sản phẩm từ Cỏ Bàng, một chất liệu truyền thống nhưng còn khá “kén” thị trường?

Chị Hồ Thị Sương Lan: Maries bắt đầu câu chuyện của mình không phải từ làng nghề, mà từ một chuyến đi xa. Trước khi sáng lập doanh nghiệp, tôi từng điều hành một Công ty du lịch inbound, chuyên đưa khách quốc tế đến Việt Nam trải nghiệm văn hóa và đời sống bản địa. Công việc đó giúp tôi có cơ hội đi qua nhiều vùng đất, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, và cũng từ đó bắt đầu nhìn lại những giá trị quen thuộc của quê hương, những điều rất gần nhưng đang dần bị bỏ quên.

Chị Hồ Thị Sương Lan - Giám đốc, nhà sáng lập Công ty TNHH Maries. Ảnh: NVCC

Trong một chuyến công tác tại Indonesia, tôi mang theo một chiếc nón lá, một hình ảnh rất quen thuộc ở Việt Nam. Điều bất ngờ là ở nước ngoài, chiếc nón lại trở thành tâm điểm chú ý, nhiều du khách tò mò hỏi han, xin thử, thậm chí cả người Việt trong đoàn cũng sử dụng để chụp ảnh. Khoảnh khắc đó khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về một biểu tượng văn hóa đẹp của Việt Nam nhưng chưa thực sự được nhìn nhận đúng giá trị, cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Từ câu chuyện của chiếc nón, tôi nhận ra một vấn đề lớn hơn: Rất nhiều sản phẩm văn hóa bản địa của Việt Nam vẫn đang “loay hoay” trong các làng quê, vùng xa, đối mặt với nguy cơ mai một khi đầu ra bấp bênh. Trở về Huế, tôi bắt đầu hành trình đi tìm lời giải, đi qua nhiều làng nghề, gặp gỡ nghệ nhân và lắng nghe những câu chuyện phía sau từng sản phẩm.

Điểm dừng chân khiến tôi trăn trở nhiều nhất là làng Phò Trạch, ngôi làng hơn 500 năm tuổi nằm bên dòng Ô Lâu, nơi người dân bao đời gắn bó với nghề đan lát từ cây cỏ bàng. Người dân nơi đây vẫn duy trì nghề, nhưng sản phẩm chủ yếu bán theo mùa, thu nhập không ổn định, người trẻ dần rời làng. Điều tôi nhận thấy rõ là sản phẩm đẹp, có giá trị, nhưng thiếu marketing, thiếu định vị thương hiệu nên chưa thể vươn ra thị trường.

Không ai làm marketing. Không ai định vị thương hiệu. Sản phẩm thì đẹp, nhưng không bước ra khỏi làng”, tôi trăn trở.

Khi nhiều nghệ nhân đã lớn tuổi, tôi càng đặt ra câu hỏi: nếu không có hướng đi mới, liệu nghề này có còn tồn tại trong tương lai? Chính những trăn trở đó, không chỉ về sinh kế mà còn về kinh tế di sản, đã thôi thúc tôi tìm cách phát triển các sản phẩm thủ công có tính ứng dụng cao, phù hợp thị hiếu. Và từ đó, thương hiệu Maries ra đời.

Các sản phẩm thủ công từ cỏ bàng ngày càng đa dạng, thân thiện môi trường và phù hợp thị hiếu.

PV: Trong quá trình phát triển sản phẩm từ Cỏ Bàng, chị đã làm gì để dung hòa giữa giá trị truyền thống và yêu cầu ngày càng cao của thị trường hiện đại?

Chị Hồ Thị Sương Lan: Thực ra, trong quá trình làm, tôi nhận ra một điều rất rõ: Truyền thống không hề “cũ”, chỉ là mình chưa đặt nó đúng vào bối cảnh của hiện tại. Người thợ ở làng nghề đã làm đúng suốt hàng trăm năm, họ hiểu chất liệu, hiểu từng sợi bàng, từng đường đan. Cái “gốc” đó là thứ tôi không bao giờ muốn thay đổi. Nhưng thị trường hôm nay thì khác. Khách hàng không chỉ cần một sản phẩm đẹp, mà còn cần sự tiện dụng, tính ứng dụng cao và cả cảm xúc khi sử dụng.

Họa tiết vẽ tay trên sản phẩm cỏ bàng tái hiện nét đẹp văn hóa truyền thống.

Vì vậy, với Maries, tôi chọn cách giữ “gốc” và thay đổi “cách thể hiện”, giữ nguyên chất liệu cỏ bàng tự nhiên, kỹ thuật đan, chằm thủ công và sự tỉ mỉ của người thợ, nhưng thay đổi phom dáng để sản phẩm nhẹ hơn, tiện hơn, có thể sử dụng hằng ngày; thay đổi màu sắc, thiết kế để phù hợp với xu hướng hiện đại. Và đặc biệt đưa hội họa vào các chi tiết thiết kế để mỗi chiếc túi xách, chiếc nón truyền thống có thể kể được câu chuyện văn hóa, làng nghề đầy tính thẩm mỹ, nghệ thuật và đặc biệt là gần gũi và chạm đến cảm xúc của khách hàng sử dụng.

Sinh ra và lớn lên giữa quần thể di sản sống động của cố đô Huế, tôi được kế thừa một kho tàng Di sản văn hóa cung đình. Những câu chuyện về mỹ học triều Nguyễn, văn hóa dân gian thể hiện qua các nét vẽ, chạm trổ và Di sản phi vật thể của vùng đất Kinh kỳ thấm vào tôi như một mạch nước ngầm. Và rồi, khi làm sản phẩm, những ký ức đó có cơ hội thông qua những bàn tay tài hoa của những người họa sĩ, thợ thủ công truyền thống xứ Huế được tái hiện lại trên túi xách, vành nón, biến di sản thành những hình ảnh có thể chạm tới, có thể mang đi, có thể bước ra thế giới một cách chân thực và nguyên vẹn.

Mở lối thị trường cho sản phẩm làng nghề, hướng tới sinh kế bền vững

PV: Việc nâng tầm sản phẩm làng nghề thành sản phẩm OCOP hoặc hướng tới thương hiệu quốc gia được Maries định hình ra sao trong chiến lược phát triển?

Chị Hồ Thị Sương Lan: Maries ra đời trong bối cảnh rất khó khăn khi dịch Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp đóng cửa hoặc chuyển hướng. Vì vậy, chúng tôi trân trọng mọi cơ chế, chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và địa phương để hành trình khởi nghiệp bớt chông chênh. Đồng thời, doanh nghiệp cũng chủ động hoàn thiện hồ sơ, đạt các chứng nhận cần thiết nhằm giúp thương hiệu “danh chính ngôn thuận” khi tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế. Đến nay, Maries đã đạt nhiều giải thưởng, chứng nhận từ thủ công mỹ nghệ, khởi nghiệp cấp tỉnh, thành phố, quốc gia đến OCOP và giải thưởng Công nghiệp nông thôn tiêu biểu.

Hoạt động sản xuất tại xưởng Maries góp phần tạo việc làm, ổn định thu nhập cho lao động nông thôn.

Tuy nhiên, chúng tôi xác định các chứng nhận chỉ là điều kiện cần. Mục tiêu cốt lõi của Maries là tạo sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn, góp phần gìn giữ và nâng tầm sản phẩm thủ công truyền thống. Đồng thời, doanh nghiệp hướng tới kể câu chuyện di sản bản địa ra thế giới thông qua các sản phẩm theo xu hướng thời trang xanh, như một hình thức “xuất khẩu văn hóa tại chỗ”.

Năm 2025, chúng tôi tham gia hội chợ quốc tế Maison & Objet tại Paris, đưa sản phẩm tiếp cận thị trường Pháp, châu Âu và Ireland, đồng thời đón tiếp nhiều đoàn đại sứ quán, tổ chức quốc tế đến khảo sát mô hình. Những trải nghiệm này giúp chúng tôi nhận thức rõ hơn vai trò của doanh nghiệp trong việc tạo ra giá trị bền vững và tiếp thêm động lực để phát triển.

Trong thời gian tới, Maries tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn thông qua chính các nghệ nhân, hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, chủ động nguồn cung. Song song, doanh nghiệp tiếp tục cải tiến chất lượng, hoàn thiện quy trình sản xuất phù hợp với đặc thù thủ công.

Đặc biệt, việc tìm kiếm thị trường, nghiên cứu đầu ra và nắm bắt xu hướng, thị hiếu khách hàng luôn là ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, Maries duy trì sự hiện diện tại các hội chợ, sự kiện trong nước và quốc tế khi điều kiện cho phép.

PV: Theo chị, đâu là những rào cản lớn nhất hiện nay khiến sản phẩm làng nghề chưa thể vươn xa, đặc biệt là trên thị trường quốc tế?

Chị Hồ Thị Sương Lan: Qua nhiều năm gắn bó với làng nghề, tôi nhận thấy khó khăn lớn nhất của sản phẩm thủ công truyền thống là đầu ra, hay chính là thị trường. Muốn bán được hàng, phải xác định rõ bán sản phẩm gì và bán cho ai, trong khi sản phẩm làng nghề hiện nay không còn chỉ để “tự cung tự cấp” mà cần tìm thị trường ổn định.

Bên cạnh đó, đa phần làng nghề thiếu người trẻ kế thừa, doanh nghiệp chủ yếu quy mô nhỏ, thiên về thương mại, ít đơn vị dám đầu tư bài bản vào sản xuất thủ công do chi phí lớn và đòi hỏi sự đam mê, kiên trì.

Thiết kế từ cỏ bàng Việt Nam xuất hiện tại sự kiện quốc tế, quảng bá giá trị thủ công truyền thống.

Khó khăn thứ hai là sự “đơn độc” của ngành thủ công trong bức tranh chung của nền kinh tế. Ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Italy, ngành thủ công luôn có không gian phát triển riêng trong chính sách, còn tại Việt Nam vẫn chưa có sự phân định rõ ràng. Ngành này cần sự hỗ trợ đồng bộ về cơ chế, chính sách, đặc biệt là thuế và các chính sách địa phương, để doanh nghiệp và người dân yên tâm gắn bó với nghề.

Thứ ba là rào cản về pháp lý, chứng từ và thủ tục xuất khẩu. Mỗi quốc gia đều có hệ thống quy định riêng để bảo vệ thị trường nội địa, vì vậy doanh nghiệp chỉ có thể tiếp cận khi có đủ năng lực và lợi thế cạnh tranh. Ngay cả thị trường trong nước đã khó, thì việc mở rộng ra các thị trường quốc tế càng là thách thức lớn. Vì vậy, bên cạnh sự chủ động của doanh nghiệp, rất cần sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý trong định hướng, nghiên cứu phát triển (R&D), giúp sản phẩm làng nghề từng bước nâng cao giá trị và mở rộng thị trường.

PV: Trong tương lai, Maries có những định hướng gì để mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và hiện thực hóa mục tiêu “Ngôi làng thịnh vượng” mà chị đang theo đuổi?

Chị Hồ Thị Sương Lan: Với tôi, “ngôi làng thịnh vượng” là nơi mỗi người dân hiểu nghề, yêu nghề và gắn bó với nghề, qua đó biến các giá trị di sản, truyền thống thành giá trị kinh tế bền vững. Tôi mong muốn người phụ nữ ở làng nghề có thể sống được bằng chính nghề của mình, có thu nhập ổn định, không phải rời bỏ nghề để tìm sinh kế khác. Xa hơn, là để người trẻ quay trở lại với nghề không chỉ vì trách nhiệm gìn giữ truyền thống, mà bởi họ nhìn thấy một tương lai rõ ràng từ nghề đó.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, trong thời gian tới, Maries sẽ tập trung vào bốn hướng chính: Tăng cường truyền thông để nâng cao nhận diện; đẩy mạnh đào tạo nhằm tạo lực lượng kế thừa; liên tục nghiên cứu, phát triển sản phẩm để mở rộng thị trường, ổn định đầu ra; đồng thời từng bước ứng dụng công nghệ nhằm chuẩn hóa quy trình, giảm sai số nhưng vẫn giữ được giá trị thủ công.

Set túi và nón họa tiết chim công của Maries được lựa chọn làm quà tặng nghệ sĩ múa Dương Lệ Bình

Theo tôi, một làng nghề chỉ thực sự thịnh vượng khi được xây dựng trên nền tảng những gia đình ổn định, hạnh phúc. Khi người phụ nữ có việc làm và thu nhập tại địa phương, họ không chỉ góp phần phát triển kinh tế gia đình mà còn nâng cao vai trò trong các quyết định quan trọng, từ đó cải thiện đời sống và tạo điều kiện cho thế hệ sau phát triển.

Những hình ảnh đó cũng chính là nguồn động lực để chúng tôi kiên định theo đuổi hành trình này trong hơn 5 năm qua, khi gắn bó với người nông dân, người lao động nông thôn, đặc biệt là những phụ nữ làm nghề thủ công tại các làng nghề truyền thống ở xứ Huế nói riêng và Việt Nam nói chung.

Cỏ bàng là loại cây mọc tự nhiên tại các vùng đất trũng, ngập nước ở khu vực miền Trung, đặc biệt phổ biến tại làng Phò Trạch - ngôi làng gắn với nghề đan lát truyền thống.

Từ cỏ bàng, người dân địa phương tạo ra nhiều sản phẩm thủ công như chiếu, túi xách, vật dụng sinh hoạt… với đặc trưng bền, nhẹ, thân thiện môi trường. Tuy nhiên, do phụ thuộc nhiều vào tính mùa vụ và thị trường tiêu thụ, nghề đan lát cỏ bàng từng đứng trước nguy cơ mai một khi thu nhập không ổn định và thiếu lực lượng kế thừa.

Nguyễn Hương