Đóng

Nhiều đề xuất góp ý hoàn thiện tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn

Để tiêu chuẩn rau an toàn phát huy hiệu quả, nhiều ý kiến đề nghị đơn giản hóa quy trình, tăng tính khả thi và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số.

Tiêu chuẩn phải xuất phát từ thực tiễn sản xuất

Ngày 9/6, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) “Quy trình sản xuất, sơ chế đối với rau ăn lá, cây rau ăn quả, cây rau ăn củ/thân đảm bảo an toàn thực phẩm”.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: N.H

Là những đối tượng trực tiếp áp dụng tiêu chuẩn trong thực tế, đại diện nhiều hợp tác xã sản xuất rau cho rằng, dự thảo đã thể hiện rõ định hướng xây dựng một bộ tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam, nhất là đối với các hộ nông dân và hợp tác xã quy mô vừa và nhỏ.

Ông Hoàng Anh Thư, Phó Giám đốc Hợp tác xã Tân Minh Đức (Hải Phòng), đánh giá cao cách tiếp cận của Ban soạn thảo khi xây dựng một khung yêu cầu chung áp dụng cho toàn bộ quá trình sản xuất, sơ chế rau, đồng thời bổ sung các quy định riêng đối với từng nhóm sản phẩm thông qua hệ thống phụ lục.

Theo ông Thư, trên thực tế, các nhóm rau ăn lá, rau ăn quả, rau ăn củ hay rau thân đều có nhiều điểm tương đồng về yêu cầu đối với đất trồng, nước tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, quản lý hồ sơ và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, việc xây dựng một khung tiêu chuẩn chung sẽ giúp giảm sự chồng chéo, tạo thuận lợi cho người sản xuất trong quá trình áp dụng.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức (Hà Nội) cho rằng, điểm tích cực của dự thảo là đã tập trung vào những yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thực phẩm thay vì đưa vào quá nhiều yêu cầu mang tính kỹ thuật chi tiết.

Theo ông Minh, tiêu chuẩn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người sản xuất có thể áp dụng được trong điều kiện thực tế. Trong bối cảnh phần lớn hộ trồng rau vẫn sản xuất với quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế, việc xây dựng tiêu chuẩn theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu và tập trung vào các yêu cầu cốt lõi là lựa chọn phù hợp.

Ông cũng đề nghị cần phân định rõ giữa tiêu chuẩn và quy trình kỹ thuật. Những hướng dẫn sản xuất chi tiết nên được thể hiện trong các tài liệu kỹ thuật riêng, còn tiêu chuẩn cần tập trung vào việc kiểm soát các mối nguy chính nhằm bảo đảm tính khái quát và khả năng áp dụng rộng rãi.

Giảm thủ tục, tăng tính khả thi cho người sản xuất

Một trong những nội dung nhận được nhiều góp ý là yêu cầu về quản lý hồ sơ và ghi chép nhật ký sản xuất. Theo ông Hoàng Anh Thư, nhiều quy trình sản xuất hiện nay vẫn đòi hỏi người dân phải thực hiện số lượng lớn các biểu mẫu và thủ tục ghi chép. Dù một số bộ tiêu chí đã được đơn giản hóa nhưng việc thực hiện trên thực tế vẫn còn khó khăn, đặc biệt đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ.

So với các quy định hiện hành, dự thảo lần này đã giảm đáng kể các yêu cầu về hồ sơ, đồng thời vẫn bảo đảm phục vụ công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng cần tiếp tục rà soát để xây dựng các mẫu biểu ngắn gọn, dễ sử dụng hơn. “Điều quan trọng nhất là người dân có thể thực hiện được. Nếu biểu mẫu quá phức tạp thì rất khó triển khai trên diện rộng, dù quy định có đầy đủ đến đâu”, ông Nguyễn Văn Minh nhận định.

Liên quan đến việc kiểm soát các điều kiện sản xuất, đại diện Hợp tác xã Văn Đức đề nghị cần cân nhắc tần suất lấy mẫu và xét nghiệm đối với đất trồng, nước tưới ở những vùng sản xuất ổn định, ít nguy cơ ô nhiễm. Nếu áp dụng chế độ giám sát với tần suất quá cao sẽ làm gia tăng đáng kể chi phí cho hợp tác xã và nông dân.

Theo đó, cơ quan quản lý nên tập trung nguồn lực kiểm tra, giám sát thường xuyên tại các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao, trong khi những vùng sản xuất ổn định có thể áp dụng cơ chế giám sát phù hợp hơn nhằm giảm gánh nặng chi phí nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý.

Bên cạnh các yêu cầu kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc là nội dung được nhiều đại biểu đánh giá sẽ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao niềm tin của thị trường đối với sản phẩm rau an toàn. Ông Hoàng Anh Thư cho rằng, tiêu chuẩn cần khuyến khích mạnh mẽ việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử gắn với mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất và mã QR sản phẩm.

Trong khi đó, đại diện doanh nghiệp thu mua và phân phối rau quả nhận định việc áp dụng nhật ký điện tử, mã QR hay các nền tảng truy xuất số là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, hiệu quả chỉ đạt được khi có sự thống nhất trong tổ chức thực hiện. Theo doanh nghiệp này, cơ quan quản lý nhà nước cần đóng vai trò chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa hệ thống mã định danh sản phẩm và nền tảng truy xuất nguồn gốc quốc gia. Nếu mỗi địa phương hoặc doanh nghiệp sử dụng một hệ thống riêng sẽ dẫn tới tình trạng phân mảnh dữ liệu, gây khó khăn cho việc kết nối và quản lý.

Doanh nghiệp cũng kiến nghị nghiên cứu xây dựng hệ thống mã định danh quốc gia cho nông sản, được xác thực bởi cơ quan quản lý và vận hành trên nền tảng dữ liệu liên thông. Đây sẽ là cơ sở để nâng cao tính minh bạch của sản phẩm, hỗ trợ kiểm soát chất lượng và thúc đẩy tiêu thụ.

Bổ sung các chỉ tiêu kiểm soát quan trọng

Từ góc độ chuyên gia khoa học, GS.TS Trần Khắc Thi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả cho rằng, rau là nhóm nông sản có mức độ rủi ro về an toàn thực phẩm cao hơn nhiều loại cây trồng khác.

Theo ông Trần Khắc Thi, rau có tốc độ sinh trưởng nhanh, hấp thu mạnh các yếu tố từ môi trường đất và nước. Đồng thời, nhiều loại rau được sử dụng trực tiếp mà không qua chế biến hoặc xử lý nhiệt, khiến các nguy cơ về an toàn thực phẩm tác động trực tiếp đến người tiêu dùng. Chính vì vậy, việc xây dựng một bộ tiêu chuẩn riêng cho sản xuất rau an toàn là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

GS.TS Trần Khắc Thi cũng đề nghị xem xét điều chỉnh tên tiêu chuẩn theo hướng bao quát hơn, đồng thời bổ sung các quy định liên quan đến sản xuất rau trái vụ trong nhà lưới, nhà màng và các mô hình canh tác hiện đại đang được áp dụng ngày càng phổ biến tại các vùng chuyên canh.

Đáng chú ý, chuyên gia này đề nghị bổ sung chỉ tiêu nitrat vào nhóm các yếu tố cần kiểm soát trong sản xuất rau an toàn. Theo ông, nitrat có thể chuyển hóa thành các hợp chất ảnh hưởng đến sức khỏe nếu tích tụ ở mức cao, trong khi đây là chỉ tiêu đã được đề cập trong nhiều quy trình và tiêu chuẩn sản xuất rau trước đây.

Ở góc độ đơn vị tư vấn và chứng nhận, nhiều ý kiến đề xuất dự thảo tăng cường viện dẫn các quy chuẩn, tiêu chuẩn và văn bản pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm tính thống nhất và tránh chồng chéo. Đồng thời kiến nghị bổ sung nội dung kiểm nghiệm sản phẩm như một bước đánh giá cuối cùng nhằm xác nhận mức độ đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.

Theo các đại biểu, cùng với việc hoàn thiện tiêu chuẩn, cơ quan quản lý cần xây dựng sổ tay hướng dẫn, tổ chức tập huấn cho các vùng sản xuất, hỗ trợ ứng dụng truy xuất nguồn gốc và thúc đẩy liên kết tiêu thụ sản phẩm. Chỉ khi bảo đảm tiêu chuẩn vừa khả thi đối với người sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý và nhu cầu của thị trường, bộ tiêu chuẩn mới có thể phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nông sản, bảo đảm an toàn thực phẩm và tăng sức cạnh tranh cho ngành rau Việt Nam trong giai đoạn tới.

Theo số liệu của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, năm 2025, cả nước có khoảng 1,15 triệu ha rau nhưng diện tích đạt chứng nhận VietGAP chỉ hơn 8.000 ha (tương đương 0,5-0,6%). Khoảng cách giữa yêu cầu kỹ thuật và khả năng áp dụng của nông hộ, hợp tác xã đang đặt ra yêu cầu xây dựng các tiêu chuẩn đơn giản, dễ thực hiện nhưng vẫn bảo đảm an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Nguyễn Hạnh - Phương Dung