Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi may mắn có cơ duyên gặp gỡ và được trò chuyện cùng các nhà báo lão thành, những "cây đại thụ" đã cống hiến trọn đời cho nền báo chí nước nhà, như nhà báo Hà Đăng, nhà báo Phạm Viết Thiệu và người thầy của biết bao thế hệ học trò trường báo, nhà báo Trần Bá Lạn.
Nhà báo Hà Đăng: "Tôi đã trải qua 5 cái hai. 'Hai trung - Hai đại - Hai tổng - Hai trưởng - Hai trợ'. Nghe có vẻ phức tạp nhỉ! Nhưng thực ra rất gọn gàng và đủ cả các chặng đường của tôi đấy!" Ảnh: Nguyên Khánh
Nhà báo Hà Đăng: 97 mùa xuân, ngòi bút "chiến sĩ" vẫn cháy mãi
Nhà báo Hà Đăng tên thật là Đặng Ha, sinh ngày 15/7/1929 tại xã Bình Kiến, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk) - cái nôi của phong trào cách mạng. Cái tên Hà Đăng được ông chọn làm bút danh đã trở thành tên gọi thường nhật, gắn liền sự nghiệp báo chí và công tác Đảng với nhiều dấu ấn rực rỡ của ông sau này.
Tự tóm tắt cuộc đời theo cách rất riêng, nhà báo Hà Đăng dí dỏm nói: "Tôi đã trải qua 5 cái hai. 'Hai trung - Hai đại - Hai tổng - Hai trưởng - Hai trợ'. Nghe có vẻ phức tạp nhỉ! Nhưng thực ra rất gọn gàng và đủ cả các chặng đường của tôi đấy!"
Ông cười và giải thích, "Hai trung" là hai nhiệm kỳ Trung ương Đảng khóa 6 và 7 (1986-1996); "Hai đại" là hai khóa Đại biểu Quốc hội 8 và 9 (1987-1997); "Hai tổng" là Tổng Biên tập Báo Nhân Dân (1987-1992) và Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản (1996-2001); "Hai trưởng" là Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (1992-1996) và Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng bản thảo Văn kiện Đảng toàn tập; "Hai trợ" là Trợ lý Tổng Bí thư Lê Duẩn (1984-1986) và Trợ lý Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2001-2006).
Bén duyên với nghề báo từ năm 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay "Tâm sự đồng bạc trong két sắt" đăng trên Báo Phấn đấu năm 1947, ông kể: "Hồi đó tôi làm Trưởng ban Tuyên truyền xã, quần chúng tham gia kháng chiến được yêu cầu ủng hộ quỹ kháng chiến. Ở xã tôi có một phú ông cũng tốt tính nhưng lại rất chắt chiu. Nên tôi đã viết bài này, thông qua thân phận đồng bạc để nói: đồng bạc ở trong tay người nghèo thì chuyển thành vũ khí, lương thực cho bộ đội. Còn đồng bạc của nhà giàu thì nằm trong két sắt, vẫn là thân phận đồng bạc nhưng cảm thấy nó lẻ loi, vô dụng quá".
"Tôi không viết phê phán mà chỉ ẩn dụ để phú ông hiểu và mở lòng trắc ẩn. Rất vui, sau khi bài báo được đăng, phú ông đó đã đem tiền ra ủng hộ quỹ kháng chiến nhiều hơn. Tôi nghĩ, tôi đã thành công trong việc đánh trúng tâm lý của nhà giàu lúc đó", ông cho hay.
Dẫn lời Bác Hồ: "Báo chí là một mặt trận và những người làm báo là chiến sĩ trên mặt trận đó. Cây bút và trang giấy là vũ khí sắc bén”, nhà báo Hà Đăng nói: nhà báo phải là người hiểu biết nhiều. Người làm báo cần phải nắm rõ điều này và không nên chỉ viết để vinh danh bản thân".
Nhà báo Hà Đăng còn được biết đến với tác phẩm nổi tiếng "Ba lần đuổi kịp trung nông", viết về các hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ đầu, ca ngợi năng suất và hiệu quả trong lao động của xã viên tại Quảng Bình, đăng trên Báo Nhân Dân ngày 9/1/1961. Ngay trong ngày bài báo được đăng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân đã nhận được điện thoại từ Bác Hồ. Bác khen ngợi "Ba lần đuổi kịp trung nông" là một điển hình tốt, đồng thời chỉ thị Ban Công tác nông thôn Trung ương (do Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm Trưởng ban) trực tiếp đi nghiên cứu và viết về kinh nghiệm của Hợp tác xã Đại Phong.
Từ chỉ đạo đó của Bác, phong trào thi đua "Học tập Đại Phong, đuổi kịp và vượt Đại Phong", hay còn gọi là Phong trào "Gió Đại Phong", nhanh chóng lan rộng khắp cả nước, trở thành hình mẫu điển hình trong phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm 1961-1965.
Nhà báo Hà Đăng trò chuyện cùng tác giả và các bạn sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ảnh: Nguyên Khánh
Ngoài ra, ông cũng viết nhiều bài báo về xây dựng Đảng, xuất bản 3 cuốn sách: "Thế ta thế thắng", "Đi lên từ sản xuất nhỏ", "Cái mới trong đổi mới" và nhận được nhiều giải thưởng của Hội Nhà báo Việt Nam.
Đầu tháng 6/2025, nhà báo Hà Đăng ra mắt cuốn sách thứ 4 "Tinh hoa cách mạng Việt Nam", tập hợp những bài viết để lại nhiều dấu ấn nhất trong cuộc đời làm báo của ông.
Trải qua 97 mùa xuân với gần 80 năm làm báo, nhà báo Hà Đăng luôn gắn liền với tên gọi trìu mến "nhà báo nhân dân" và gắn bó sâu sắc với Báo Nhân Dân. Ở độ tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn giữ nếp sống lạc quan, mẫn tiệp và khiêm nhường; thường xuyên viết bài, tham dự các sự kiện báo chí và chấm giải Báo chí Quốc gia.
Nhà báo Phạm Viết Thiệu: "Bút sắc lòng trong"
Nhà báo Phạm Viết Thiệu sinh ngày 1/10/1924 tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Ông sớm giác ngộ, tham gia cách mạng và được kết nạp Đảng vào tháng 9/1947.
Tháng 4/1949, ông cùng 41 học viên tham gia khóa học đào tạo viết báo Huỳnh Thúc Kháng, "địa chỉ đỏ" của báo chí cách mạng Việt Nam. Đây cũng là khóa học báo chí đầu tiên của cả nước theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến trường ác liệt, trường chỉ tổ chức được duy nhất một khóa học ngắn hạn 3 tháng (khai giảng ngày 4/4 và bế giảng ngày 6/7/1949).
Nhà báo Phạm Viết Thiệu cùng con trai (nhà báo Phạm Việt Dũng). Ảnh: Nguyên Khánh
Cả cuộc đời nhà báo Phạm Viết Thiệu gắn liền với sự nghiệp báo chí. Ông nguyên là giảng viên Trường Tuyên Huấn Trung ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền, gần 3 năm); nguyên Tổng Biên tập đầu tiên của Báo Hà Sơn Bình (Báo Hoà Bình, sau sáp nhập là Báo Phú Thọ); nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Tuyên truyền (nay là Tạp chí Tuyên giáo, sau sáp nhập là Tạp chí Cộng sản) cho đến khi nghỉ hưu năm 1990.
Đánh giá về Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng, nhà báo Phạm Viết Thiệu từng chia sẻ: "Lớp này toàn cử những cán bộ đã làm báo đi học, đào tạo được một thế hệ nhà báo giỏi, sau có nhiều người nổi tiếng. Hầu như các học viên sau tốt nghiệp đều làm báo. Tuy chỉ có một lớp nhưng giúp cho kháng chiến có một lực lượng làm báo đảm đương được nhiệm vụ của mình”.
Để viết được chân dung về nhà báo Phạm Viết Thiệu - người có tuổi đời nhiều hơn cả sự phát triển của nền Báo chí Cách mạng Việt Nam, có lẽ là một cái duyên thật tuyệt vời đối với tôi. Tôi xin được cảm ơn người thầy của mình - PGS.TS Hà Huy Phượng, người đã kết nối tôi với Nhà báo Phạm Việt Dũng, Trưởng ban Kinh tế của Tạp chí Cộng sản (con trai của nhà báo Phạm Viết Thiệu) và cho tôi thêm nhiều thông tin, tư liệu quý mà trong phạm vi bài viết này tôi chưa thể khai thác hết.
Học viên lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng năm 1949. Ảnh: NVCC.
Người thầy đầu tiên của khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà báo Trần Bá Lạn, nguyên Trưởng khoa Báo chí đầu tiên của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, sinh ngày 7/11/1930 trong một gia đình trí thức ở Thường Tín, Hà Nội. Cha ông là học giả Trần Bá Giám - một học giả uyên bác với khả năng Hán ngữ và tiếng Pháp xuất sắc, một họa sĩ tài năng tại Sở Địa dư Đông Pháp; tác giả của 28 bức địa đồ trong cuốn "Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ" xuất bản năm 1925 và nhiều mẫu tem bưu chính những năm 1920-1930.
Trước khi làm báo và chuyển sang làm thầy, ông từng tốt nghiệp Trường Kỹ nghệ Liên khu IV, chuyên ngành hội họa và thiết kế, nên rất giỏi về lĩnh vực đồ họa.
Tháng 11/1953, sau khi tốt nghiệp Trường Kỹ nghệ Liên khu IV, ông được cử đi học một khóa tập huấn và được phân công về làm việc ở Báo Tiền Phong tại chiến khu Việt Bắc. Từ đây, cuộc đời rẽ lối, đưa ông bén duyên với nghề báo.
Năm 1954, ông được cử đi học tại Trường Đại học Bắc Kinh và tốt nghiệp với thành tích xuất sắc cả về lý thuyết và thực hành viết báo. Sau khi tốt nghiệp, ông được cử về Ban Tuyên huấn Trung ương, làm việc ở Vụ Báo chí.
Khi ngành báo chí cần mở các lớp đào tạo chuyên nghiệp, ông được cử về Trường Đại học Nhân dân (1961), tham gia giảng dạy tại tổ bộ môn báo chí. Sau đó, Trường Đại học Nhân dân hợp nhất với Trường Tuyên huấn và Trường Nguyễn Ái Quốc II để hình thành Trường Tuyên giáo Trung ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền).
Nhà báo Trần Bá Lạn: Người thầy đầu tiên của khoa Báo chí – Học viên Báo chí và Tuyên truyền. Ảnh: Nguyên Khánh
Chia sẻ về nhân duyên với trường báo, nhà báo Trần Bá Lạn cho biết, ban đầu ông không trực tiếp lo việc thành lập khoa mà chỉ là thành viên. Tuy nhiên, sau đó các thành viên khác đều rút lui, nên ông được giao trách nhiệm lo cho học sinh Khoa Báo chí. Từ đó, nhà báo Trần Bá Lạn gắn bó với công việc đào tạo cho đến khi nghỉ hưu theo chế độ.
Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, thầy Trần Bá Lạn cho biết, điều quan trọng nhất trong giảng dạy là phải kết hợp "lý luận với thực hành ngay", bởi làm báo là phải đi thực tế, không thể chỉ ngồi trong lớp.
Nên ngay từ năm thứ nhất, sinh viên đã được yêu cầu tập làm báo tại chỗ và tham gia cộng tác cho các báo. Những bài viết của sinh viên được sử dụng trên báo đã kích thích phong trào viết báo, làm cho các khóa đào tạo ngày càng sôi nổi và tỷ lệ học viên thành công ngày càng cao.
Thầy Trần Bá Lạn cho biết trước khi giảng dạy, thầy cũng thường đi thực tế để có thêm kinh nghiệm: "Tôi từng đến Hải Phòng vào những năm 1967-1968, khi bom đạn như mưa, để lấy tư liệu. Đây cũng là kinh nghiệm thực tế quý báu giúp tôi thuyết phục học viên. Hay mỗi lần đi nước ngoài, tôi đều viết bài cho báo, đài theo yêu cầu của nước bạn".
Hiện thầy đã xuất bản bộ 2 tập "Giáo trình nghiệp vụ báo chí" năm 1977 và 4 cuốn sách: "Nghĩa nặng tình sâu", "Tâm tình từ con số 7", "Tiếng súng và bước ngoặt cuộc đời", "Vọng mãi niềm tin". Trong đó, "Vọng mãi niềm tin" là tổng hợp các bài viết của các nhà báo khác viết về thầy.
Hồi tưởng lại quá khứ, thầy nói: "Tôi nhớ và xúc động nhất là buổi giảng bài về kinh nghiệm làm báo của Bác Hồ ở Thanh Hóa. Khi đó, ngay trong giảng đường, học sinh đã khóc vì xúc động. Hay bài viết đầu tiên với tựa đề 'Mùa xuân ở đây cũng ấm áp' được đăng trên tờ Trung Quốc Thanh niên báo ngày 10/4/1957 khi đang học ở Bắc Kinh. Đó là những kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời". Hiện nay, bài viết "Mùa xuân ở đây cũng ấm áp" bản tiếng Trung đang được lưu giữ tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam.
Nhắn gửi các lớp phóng viên, nhà báo trẻ, thầy Trần Bá Lạn cho hay, để làm báo tốt, mỗi nhà báo cần hội tụ nhiều yếu tố. Đầu tiên là phải có quan điểm chính trị tư tưởng vững vàng; phải bảo đảm "tính chân thật, tính chiến đấu, tính chỉ đạo, tính quần chúng".
Đồng thời phải yêu quý nhân dân như người thân, bầu bạn, khơi gợi những suy nghĩ, tiềm ẩn của họ, biết cách phân biệt và phát hiện những nhân tố tốt trong xã hội. Không được dừng lại ở những điều đã biết mà phải luôn tìm hiểu, tích lũy thêm kiến thức, khám phá những tình tiết sâu lắng, ẩn chứa trong những ý tưởng mới. Cần rèn luyện khả năng viết, sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, phải luôn nhớ lời căn dặn của Bác mỗi khi đặt bút: "Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết cho ai? Viết thế nào?"
Bên cạnh đó, cần phải có sức khỏe tốt, dẻo dai, bởi nghề báo đôi khi đòi hỏi phải thức đêm để viết bài hay tham gia các chuyến đi thực tế.
Thầy gửi gắm: "Cần trân trọng nghề nghiệp của mình. Nhiệt tâm, nhiệt huyết với nghề, đồng thời phải tỉnh táo, nhạy bén để nhận diện mặt tốt và sự phá hoại của các thế lực thù địch, phê phán những luận điệu sai trái của kẻ thù. Dù mỗi thời đại có những cách làm khác nhau, ngọn lửa đam mê và sứ mệnh của báo chí sẽ luôn soi sáng con đường phát triển của đất nước và phụng sự nhân dân".
PGS.TS Hà Huy Phượng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền - người dày dặn kinh nghiệm trong nghiên cứu, đào tạo và thực tiễn báo chí, đã dành sự trân trọng sâu sắc khi chia sẻ về các nhà báo lão thành của nền báo chí cách mạng Việt Nam: "Cuộc đời và sự nghiệp của những nhà báo lão thành là minh chứng sống động cho sự cống hiến, kiên cường và lòng trung thành với lý tưởng cách mạng. Họ là những người ghi chép lịch sử và cũng là người trực tiếp tạo nên lịch sử, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước".