Đóng

Nông sản chế biến tăng tốc vào EU: Chất lượng là 'tấm vé' dài hạn

Hơn 6 năm EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu rau quả sang EU lập kỷ lục. Nhưng lợi thế đi trước đang thu hẹp, buộc doanh nghiệp cạnh tranh bằng chất lượng, sự tin cậy và chuẩn xanh.

Ưu đãi thuế quan từ EVFTA đang được khai thác hiệu quả

Sau hơn 6 năm thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), thương mại song phương tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hết sức tích cực với nhiều chuyển biến rõ nét cả về quy mô, cơ cấu thị trường và mặt hàng ngày càng mở rộng.

9 tháng năm 2026, trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt 65,48 tỷ USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm trước. EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3, thị trường nhập khẩu lớn thứ 6. Ở chiều ngược lại, Việt Nam đang đứng vị trí đối tác thương mại lớn nhất của EU trong khối ASEAN và thứ 9 nhà cung ứng hàng hóa hàng đầu cho thị trường EU.

Không thể phủ nhận, Hiệp định EVFTA là một trong những FTA mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận nhất trong số các FTA thế hệ mới Việt Nam đã tham gia, khi không chỉ phát huy vai trò trợ lực cho giao thương, giúp hàng hóa hai bên tiếp cận thị trường thuận lợi, mà quan trọng hơn là hỗ trợ nguồn lực, vốn, công nghệ, doanh nghiệp, tiêu chuẩn và chuỗi cung ứng hai bên gắn kết sâu và hiệu quả hơn.

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Westfood Hậu Giang cho rằng, chất lượng là 'tấm vé' dài hạn để doanh nghiệp Việt trụ vững tại thị trường EU.

Từ thực tiễn hoạt động xuất khẩu sang EU và quá trình thực thi, tận dụng EVFTA thời gian qua, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Westfood Hậu Giang cho biết, EVFTA mang lại ba cơ hội lớn cho ngành nông sản chế biến Việt Nam.

Trước hết, theo bà Nguyệt, ưu đãi thuế quan giúp sản phẩm Việt Nam tăng sức cạnh tranh về giá tại thị trường EU. Thứ hai, EU là thị trường có giá trị cao, tạo cơ hội để doanh nghiệp đẩy mạnh các sản phẩm chế biến sâu như trái cây IQF (loại trái cây được cấp đông siêu tốc và riêng lẻ) đóng hộp, nước ép và thực phẩm chế biến sẵn, qua đó gia tăng giá trị cho nông sản Việt Nam. Thứ ba, việc đáp ứng được tiêu chuẩn khắt khe của EU cũng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực và mở rộng sang các thị trường phát triển khác.

“Bên cạnh các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand... nhiều sản phẩm của Westfood cũng đã hiện diện tại 13 quốc gia EU. Khách hàng châu Âu không chỉ quan tâm đến giá mà còn đặc biệt chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và khả năng cung ứng ổn định”, bà Nguyệt thông tin.

Thống kê của Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cũng cho thấy, xuất khẩu rau quả sang EU tiếp tục là điểm sáng nhờ tận dụng tốt cơ hội từ EVFTA. Dẫn số liệu từ Hải quan Việt Nam, đơn vị này cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU đạt mức cao kỷ lục 293,49 triệu USD, chiếm 7,92% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước.

Kết quả này cũng tiếp nối xu hướng tăng trưởng tích cực trong những năm gần đây. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm giai đoạn 2022 - 2026, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU tăng trưởng bình quân 30,17%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân 24,21% của toàn ngành. Đà tăng trưởng này cho thấy năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc của doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước được nâng lên, đồng thời các ưu đãi thuế quan từ EVFTA đang được khai thác ngày càng hiệu quả.

Bên cạnh đó, cơ cấu xuất khẩu cũng có xu hướng chuyển dịch theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến như nước ép, trái cây sấy, đông lạnh và sản phẩm cô đặc. Điều này không chỉ giúp nâng cao giá trị gia tăng mà còn giảm bớt hạn chế về khoảng cách địa lý, chi phí logistics và rủi ro trong quá trình vận chuyển sang thị trường EU.

Xuất khẩu rau quả sang EU tiếp tục là điểm sáng nhờ tận dụng tốt cơ hội từ EVFTA.

Về cơ cấu thị trường xuất khẩu, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên cho biết, trong 6 tháng đầu năm giai đoạn 2022 - 2026, cơ cấu xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU có sự phân hóa rõ rệt giữa các quốc gia thành viên, được định hình bởi vai trò trung tâm logistics, quy mô dân số và mức tiêu thụ nội địa.

Nhóm cửa ngõ phân phối và trung chuyển Hà Lan tiếp tục là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam trong EU, đồng thời đóng vai trò là cửa ngõ trung chuyển và phân phối hàng hóa sang các quốc gia khác trong khu vực. Trong 6 tháng đầu năm giai đoạn 2022 - 2026, xuất khẩu rau quả sang Hà Lan tăng trưởng bình quân 30,71%, chiếm khoảng 39,88 - 45,12% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU. Ngoài ra, Đức và Pháp là hai thị trường tiêu thụ lớn, với tổng tỷ trọng chiếm khoảng 28,65 - 30,66% trong 6 tháng đầu năm giai đoạn 2022 - 2026.

Tận dụng “quãng đường dẫn trước”

Tuy nhiên, cơ hội luôn đi cùng thách thức. Theo Thương vụ Việt Nam tại Pháp, EU hiện đang đẩy nhanh đàm phán và ký kết FTA với nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia... Điều đó đồng nghĩa với việc lợi thế “người đi trước” mà Việt Nam có được nhờ EVFTA đang dần thu hẹp.

Dù vậy, Việt Nam vẫn đang nắm một khoảng cách dẫn trước đáng kể. Sau hơn 6 năm EVFTA có hiệu lực, doanh nghiệp Việt đã tích lũy được quan hệ với nhà nhập khẩu, kinh nghiệm về quy tắc xuất xứ, hồ sơ tuân thủ và hiểu biết về thị trường. Đây là những lợi thế mà các đối thủ mới tham gia FTA chưa thể có ngay. Áp lực cạnh tranh mới vì thế cũng trở thành động lực để doanh nghiệp Việt Nam đẩy nhanh quá trình hội nhập sâu vào thị trường EU.

Theo ông Vũ Anh Sơn, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Pháp, khoảng thời gian dẫn trước này cần được tận dụng để củng cố thị phần, đi sâu hơn vào hệ thống phân phối và nâng cấp sản phẩm. Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải nhanh chóng chuyển từ cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi thuế sang cạnh tranh bằng chất lượng, độ tin cậy, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực tuân thủ. Yêu cầu này càng cấp thiết khi EU ngày càng bổ sung nhiều quy định phi thuế quan mới về môi trường, an toàn thực phẩm, chuỗi cung ứng, phát thải carbon và trách nhiệm doanh nghiệp.

“Doanh nghiệp Việt Nam cần tranh thủ “quãng đường dẫn trước” hiện tại để biến lợi thế về thời gian thành lợi thế bền vững về thị trường, thương hiệu và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn EU”, ông Vũ Anh Sơn khuyến nghị.

Từ góc độ doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt cũng cho rằng khó khăn lớn nhất khi thâm nhập thị trường EU là kiểm soát đồng bộ toàn bộ chuỗi cung ứng. Khó khăn này tập trung ở các khâu an toàn thực phẩm, vùng nguyên liệu và các tiêu chuẩn xanh về môi trường, phát thải, bao bì.

“Điều khó là doanh nghiệp không chỉ kiểm soát trong phạm vi nhà máy mà phải liên kết chặt chẽ với hợp tác xã và người nông dân, kiểm soát ngay từ khâu canh tác”, bà Nguyệt chia sẻ. Xác định EU là thị trường chiến lược dài hạn, WestFood đang tập trung vào ba hướng đi như phát triển sản phẩm, trong đó, đẩy mạnh các sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao như trái cây cấp đông nhanh IQF, đồ hộp và các sản phẩm tiện lợi từ rau quả nhiệt đới.

Song song đó, mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua tiếp cận các nhà nhập khẩu, nhà phân phối và hệ thống bán lẻ hiện đại. Ngoài ra, tiếp tục đầu tư công nghệ, phát triển vùng nguyên liệu và sản xuất bền vững để bảo đảm chất lượng cũng như nguồn cung ổn định.

“EVFTA mở ra cánh cửa cho doanh nghiệp Việt Nam, nhưng chất lượng và sự tin cậy mới là yếu tố giúp doanh nghiệp đứng vững và có được những đơn hàng lâu dài tại EU”, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt chia sẻ.

Theo tính toán từ số liệu của Cục Hải quan, 9 tháng năm 2026, trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khả quan, đạt 65,48 tỷ USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu 50,7 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 14,7 tỷ USD, tăng 14%.

Hoàng Hòa