Trên hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, Việt Nam cần một nền kinh tế tăng trưởng bằng năng suất, năng lực sản xuất và bản lĩnh của doanh nghiệp trong nước.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, tăng trưởng bền vững chỉ có thể được tạo dựng khi nội lực được bồi đắp đủ sâu, còn nguồn lực bên ngoài phải được thu hút một cách chọn lọc và gắn chặt với mục tiêu nâng cao sức tự chủ của nền kinh tế.
Theo ông, thế nào mới là tăng trưởng bền vững dựa trên nội lực? Những tiêu chí nào cho thấy nền kinh tế đang lớn lên bằng năng suất, năng lực doanh nghiệp trong nước và sức chống chịu trước những cơn gió ngược?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Trong bối cảnh hiện nay, mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức rất lớn, khó có thể đạt được nếu chỉ trông vào quán tính thông thường. Để chạm tới ngưỡng này, cần có các chính sách ưu tiên đủ rõ, cơ chế hỗ trợ đủ mạnh và sự dồn lực vào những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn nền kinh tế. Chỉ khi nguồn lực được tập trung đúng hướng, tăng trưởng cao mới có thể đi cùng hiệu quả thực chất.
Chuyên gia kinh tế - PGS. TS Đinh Trọng Thịnh.
Tôi cho rằng, điều quan trọng nhất là tăng trưởng phải xuất phát trước hết từ việc huy động và phát huy nguồn lực trong nước. Nội lực của nền kinh tế không chỉ nằm ở vốn, mà còn ở năng lực sản xuất, năng lực tổ chức, năng suất lao động và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, muốn tăng trưởng bền vững thì phải phát triển được nền tảng sản xuất của nền kinh tế theo hướng đồng bộ, chứ không thể chỉ trông chờ vào mở rộng đầu tư theo chiều rộng.
Trong đó, một trọng tâm rất quan trọng là phát triển công nghiệp, đặc biệt là những ngành sản xuất quy mô lớn, có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao. Khi khu vực sản xuất trong nước, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, đủ mạnh và đạt tốc độ tăng trưởng cao, thì khi đó mới có cơ sở thực tế để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.
Mặt khác, cũng phải nhìn nhận một cách thực tế rằng trong điều kiện hiện nay, nếu Việt Nam không tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhất là dòng vốn gắn với công nghệ hiện đại, với các ngành công nghiệp nền tảng và nông nghiệp chế biến trên cơ sở công nghiệp hóa, thì việc tạo ra bứt phá tăng trưởng sẽ rất khó khăn. Nói cách khác, nội lực là yếu tố quyết định, nhưng ngoại lực vẫn là nguồn bổ trợ rất quan trọng.
Tựu chung, tăng trưởng bền vững phải là sự kết hợp hài hòa giữa việc củng cố năng lực sản xuất trong nước với việc thu hút, chọn lọc và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài. Khi nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế được kết nối một cách đồng bộ, hợp lý và phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế, thì khi đó chúng ta mới có thể tạo ra bước phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn.
Giữa mục tiêu tăng trưởng cao và yêu cầu tự chủ nền kinh tế có mâu thuẫn với nhau hay không? Nếu không thì điều kiện nào để hai mục tiêu này có thể song hành, thưa ông?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Theo tôi, giữa mục tiêu tăng trưởng cao và yêu cầu tự chủ kinh tế không có mâu thuẫn. Ngược lại, nếu được tổ chức đúng cách, đây là hai mục tiêu có thể hỗ trợ cho nhau. Tăng trưởng cao là yêu cầu rất quan trọng đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, bởi đó là điều kiện để mở rộng quy mô nền kinh tế, nâng cao nguồn lực quốc gia và cải thiện đời sống xã hội.
Còn tự chủ kinh tế không có nghĩa là đóng cửa hay tách rời khỏi thế giới, mà là xây dựng được một nền tảng đủ vững để nền kinh tế có thể vận hành ổn định, chống chịu tốt hơn trước các biến động bên ngoài và chủ động hơn trong quá trình phát triển.
Muốn hai mục tiêu này song hành, trước hết khu vực kinh tế trong nước phải lớn lên tương xứng với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Nghĩa là trong quá trình tăng trưởng, tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp trong nước, của nguồn vốn trong nước và của năng lực sản xuất nội địa phải được củng cố và nâng lên. Nếu nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng phụ thuộc quá lớn vào các yếu tố bên ngoài thì đó chưa thể coi là tự chủ.
Đồng thời, chúng ta cũng phải kết hợp chặt chẽ giữa nguồn vốn hình thành từ nội bộ nền kinh tế quốc dân với các nguồn vốn từ bên ngoài. Ở đây, nguyên tắc là nguồn lực trong nước phải được giữ vững và phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò nền tảng; còn nguồn lực bên ngoài cần được khai thác theo hướng bổ sung, hỗ trợ, tạo thêm động lực cho tăng trưởng.
Khi đầu tư trong nước được phát huy tốt, và khi đầu tư nước ngoài được kết nối hiệu quả với nhu cầu phát triển thực tế của nền kinh tế Việt Nam, thì lúc đó tăng trưởng cao không chỉ là sự gia tăng về số lượng mà còn là quá trình củng cố nội lực. Chính sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh bên trong và các nguồn lực bên ngoài mới tạo ra điều kiện để nền kinh tế vừa phục hồi tốt, vừa tăng trưởng nhanh, vừa nâng dần mức độ tự chủ một cách thực chất.
Trong bối cảnh biến động toàn cầu ngày càng khó lường như hiện nay, doanh nghiệp Việt cần xây dựng những khung quản trị rủi ro như thế nào để vừa duy trì tăng trưởng mà vừa hạn chế tổn thương từ các cú sốc từ bên ngoài?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Đây là một vấn đề rất quan trọng, nhưng cũng không đơn giản đối với doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế thời gian qua cho thấy chúng ta đã có những cách ứng xử tương đối phù hợp để tận dụng cơ hội trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, qua đó vẫn duy trì được đà phát triển nhất định của nền kinh tế. Tuy nhiên, quản trị rủi ro không phải là câu chuyện ngắn hạn, mà là yêu cầu mang tính lâu dài, gắn với từng giai đoạn phát triển và với đặc thù riêng của từng doanh nghiệp.
Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì phải gắn quản trị rủi ro với chiến lược sử dụng vốn, chiến lược sản xuất và chiến lược tăng trưởng. Tức là doanh nghiệp không chỉ tính đến mục tiêu mở rộng hoạt động, mà còn phải cân nhắc kỹ khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực thích ứng trước biến động thị trường và mức độ phù hợp của kế hoạch phát triển với từng thời kỳ cụ thể.
Nói cách khác, doanh nghiệp cần có những biện pháp quản trị linh hoạt, phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động và điều kiện thị trường của mình. Việc huy động vốn, mở rộng sản xuất hay đầu tư mới đều phải được tính toán trên cơ sở bám sát yêu cầu của từng giai đoạn phát triển, vừa đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn cho hoạt động của doanh nghiệp. Khi quản trị được tốt các yếu tố đó, doanh nghiệp mới có thể duy trì tăng trưởng ổn định và hạn chế được những tổn thương khi nền kinh tế thế giới xuất hiện các cú sốc bất lợi.
Hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay đã đủ khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn cho các dự án mang tính nền tảng như công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược hay chưa? Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở đâu và cần ưu tiên cải cách gì để phát triển thị trường vốn dài hạn?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Thực ra, xét về tổng thể thì nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay về cơ bản là đã có những nguồn để đáp ứng. Chúng ta có thể huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau, bao gồm cả nguồn lực trong nước lẫn các nguồn vốn từ quốc tế. Ngoài ra, cũng có những nguồn vốn quốc tế được triển khai trong khuôn khổ cho phép của cơ quan quản lý nhà nước, phục vụ cho đầu tư và phát triển.
Vậy nhưng, nói có nguồn vốn không có nghĩa là việc huy động vốn luôn dễ dàng. Trên thực tế, việc huy động vốn bằng các hình thức khác nhau vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn cho những lĩnh vực có tính nền tảng, đòi hỏi quy mô lớn, thời gian hoàn vốn dài và mức độ rủi ro cao.
Điều đó cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở tổng lượng vốn, mà còn nằm ở cấu trúc của thị trường vốn, ở khả năng dẫn vốn vào đúng khu vực cần thiết và ở hiệu quả kết nối giữa các nguồn vốn với nhu cầu phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Do đó, để phát triển thị trường vốn dài hạn hiệu quả hơn, điều quan trọng là phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy động và phân bổ vốn, tạo điều kiện cho các nguồn vốn trong nước và quốc tế có thể tham gia thuận lợi hơn vào các lĩnh vực then chốt như công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược. Đồng thời, cũng cần nâng cao tính ổn định, minh bạch và khả năng phối hợp giữa các kênh dẫn vốn, để nguồn lực tài chính thực sự trở thành bệ đỡ cho tăng trưởng dài hạn.
Nhìn từ các cân đối lớn của nền kinh tế giữa tiết kiệm với đầu tư, giữa khu vực trong nước và khu vực FDI, giữa thị trường nội địa và xuất khẩu, theo ông, Việt Nam cần điều chỉnh theo hướng nào để mục tiêu tự chủ kinh tế trở thành năng lực thực sự?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Để tăng trưởng và phát triển sản xuất một cách bền vững, nền kinh tế phải bảo đảm được sự hài hòa giữa các yếu tố lớn và giữa các khu vực trong nền kinh tế. Muốn vậy, cần có sự theo dõi sát sao và điều phối hợp lý các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, cũng như giữa phát triển thị trường nội địa với thúc đẩy xuất khẩu. Chỉ khi các cân đối này được vận hành một cách thống nhất và hợp lý thì nền kinh tế mới có thể phát triển tốt.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường huy động và động viên các nguồn lực trong nước để phục vụ cho tăng trưởng và phát triển sản xuất. Đây là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể tách rời khỏi các dòng chảy đầu tư quốc tế.
Vấn đề là phải tạo ra được sự kết nối thực chất giữa nhu cầu phát triển trong nước với các hoạt động đầu tư từ bên ngoài, để các nguồn lực quốc tế không chỉ bổ sung vốn mà còn góp phần nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ và chất lượng tăng trưởng của Việt Nam.
Có thể nói, việc thu hút nguồn lực từ nước ngoài vẫn là một yêu cầu cần được quan tâm đúng mức, bởi nếu làm tốt, đây sẽ là yếu tố hỗ trợ quan trọng để nền kinh tế duy trì được đà tăng trưởng không chỉ trong một năm mà trong nhiều năm liên tiếp, kể cả với mục tiêu tăng trưởng cao.
Nhưng để điều đó mang lại hiệu quả bền vững, thì nguồn lực bên ngoài phải được kết hợp chặt chẽ với nguồn lực trong nước, và các bộ phận khác nhau của nền kinh tế phải có sự phối hợp tích cực, chủ động và phù hợp với mục tiêu chung.
Chỉ khi nào chúng ta tổ chức được tốt sự kết hợp giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, giữa các khu vực và các nguồn lực của nền kinh tế, thì khi đó hoạt động đầu tư mới phát huy đầy đủ hiệu quả, và mục tiêu tự chủ kinh tế mới có thể trở thành năng lực thực sự chứ không chỉ dừng ở mong muốn.
Trân trọng cám ơn ông!