Đóng

PGS.TS Nguyễn Bá Minh: 4 giải pháp kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng

Kiểm soát lạm phát là một trong những mục tiêu trọng tâm của điều hành kinh tế vĩ mô nhằm duy trì ổn định kinh tế, củng cố niềm tin thị trường và tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững.

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) mới đây đã công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 3,27% của cùng kỳ năm trước. Mức tăng này vẫn nằm trong ngưỡng mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% mà Quốc hội đề ra cho năm 2026, tuy nhiên dư địa không còn nhiều. Làm thế nào để kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Bá Minh, Giảng viên cao cấp, Khoa Kế toán, Học viện Tài chính, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính.

CPI cơ bản được kiểm soát

- Thưa PGS.TS, CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,38% so với cùng kỳ. Mặc dù con số này vẫn dưới mục tiêu 4,5% của Quốc hội nhưng dư địa điều hành còn lại khá hẹp. Ông đánh giá như thế nào về bản chất của áp lực lạm phát trong nửa đầu năm nay?

PGS.TS. Nguyễn Bá Minh: Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu gia tăng trở lại do biến động địa chính trị và giá năng lượng thế giới tăng mạnh, mặt bằng giá trong nước cũng chịu áp lực đáng kể từ các yếu tố nhập khẩu và chi phí sản xuất.

Tuy nhiên, nhờ nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, chính sách điều hành giá chủ động của Chính phủ và sự phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, diễn biến CPI của Việt Nam vẫn cơ bản được kiểm soát, mặc dù tốc độ tăng cao hơn cùng kỳ năm trước.

PGS.TS Nguyễn Bá Minh, Giảng viên cao cấp, Khoa Kế toán, Học viện Tài chính, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính.

Xét theo diễn biến từng tháng, CPI có xu hướng tăng nhanh trong quý II/2026 trước khi giảm nhẹ vào tháng 6/2026. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 01/2026 tăng 2,53%, tháng 02/2026 tăng 3,35%, tháng 3/2026 tăng 4,65%, tháng 4/2026 tăng 5,46%, tháng 5/2026 đạt 5,60% - mức tăng cao nhất kể từ đầu năm, sau đó giảm còn 4,69% trong tháng 6/2026 khi giá nhiên liệu trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của thị trường thế giới. So với tháng trước, CPI tháng 6/2026 giảm 0,39%, chủ yếu do giá xăng dầu giảm sau khi giá dầu Brent hạ nhiệt vào cuối tháng 6/2026, phản ánh mức độ truyền dẫn khá nhanh của giá năng lượng thế giới vào mặt bằng giá trong nước.

Về cơ cấu tác động, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tiếp tục là nhân tố đóng góp lớn nhất vào mức tăng CPI, với chỉ số giá tăng 4,79%, làm CPI chung tăng 1,72 điểm phần trăm. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,72%, đóng góp 1,53 điểm phần trăm vào CPI chung, phản ánh tác động đồng thời của việc điều chỉnh giá điện sinh hoạt, giá thuê nhà, giá nước sinh hoạt và giá vật liệu xây dựng. Trong khi đó, nhóm giao thông tăng 5,23%, làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu bình quân 6 tháng vẫn cao hơn cùng kỳ năm trước mặc dù đã giảm vào cuối quý II/2026. Ngoài ra, nhóm giáo dục, thiết bị và đồ dùng gia đình, văn hóa - giải trí và du lịch cũng ghi nhận mức tăng, phản ánh sự phục hồi của tổng cầu trong nước.

Nhóm giao thông tăng 5,23%, làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu bình quân 6 tháng vẫn cao hơn cùng kỳ năm trước. Ảnh: Minh Anh

Đáng chú ý, lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của CPI bình quân (4,38%). Điều này cho thấy áp lực lạm phát chủ yếu đến từ các yếu tố chi phí bên ngoài như giá năng lượng, thực phẩm... thay vì xuất phát từ sự gia tăng quá mức của cầu nội địa.

Tôi cho rằng, lạm phát trong giai đoạn này mang đặc trưng của lạm phát chi phí đẩy, trong đó sự gia tăng của giá nguyên liệu đầu vào, chi phí logistics và tác động lan tỏa từ biến động giá năng lượng thế giới đóng vai trò chi phối.

- Từ phân tích của PGS.TS, biến động địa chính trị tại Trung Đông đã kích hoạt cú sốc nguồn cung năng lượng toàn cầu. Sự truyền dẫn này đã tác động cụ thể như thế nào đến rổ hàng hóa CPI trong nước những tháng qua, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Bá Minh: Diễn biến lạm phát trong 6 tháng đầu năm 2026 là kết quả tổng hợp của cả yếu tố bên ngoài và bên trong nền kinh tế. Trong đó, áp lực lạm phát chủ yếu đến từ sự gia tăng của giá năng lượng thế giới, giá thực phẩm... cùng với sự phục hồi của tổng cầu trong nước. Ngược lại, nguồn cung hàng hóa dồi dào, điều hành giá linh hoạt và chính sách tài khóa - tiền tệ thận trọng đã góp phần hạn chế tốc độ gia tăng của mặt bằng giá.

Thứ nhất, biến động giá năng lượng thế giới là nhân tố tác động mạnh nhất đến lạm phát trong quý II/2026. Sau khi xung đột tại Trung Đông leo thang từ tháng 4/2026, giá dầu Brent đạt đỉnh 126,41 USD/thùng vào ngày 30/04/2026, mức cao nhất kể từ tháng 3/2022, kéo theo giá xăng dầu thành phẩm trên thị trường Singapore và giá bán lẻ xăng dầu trong nước tăng mạnh trong nhiều kỳ điều hành liên tiếp. Chi phí nhiên liệu tăng làm gia tăng chi phí vận tải, logistics và chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất, tạo ra hiệu ứng lan tỏa đến giá hàng hóa và dịch vụ. Đến cuối tháng 6/2026, khi giá dầu thế giới giảm trở lại, CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu nhờ giá xăng dầu giảm theo diễn biến thị trường quốc tế, cho thấy mức độ truyền dẫn khá nhanh của giá năng lượng vào lạm phát trong nước.

Thứ hai, giá lương thực, thực phẩm tiếp tục là động lực quan trọng làm gia tăng CPI. Theo Cục Thống kê, bình quân 6 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp khoảng 1,72 điểm phần trăm vào mức tăng CPI chung, cao nhất trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ.

Thứ ba, việc điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước quản lý làm gia tăng áp lực lạm phát chi phí đẩy. Trong quý II/2026, giá điện sinh hoạt, nước sạch, giá thuê nhà và vật liệu xây dựng tiếp tục tăng dưới tác động của nhu cầu sử dụng điện cao trong mùa nắng nóng, chi phí đầu vào tăng và sự phục hồi của thị trường bất động sản. 

Thứ tư, sự phục hồi của tổng cầu và hoạt động dịch vụ làm gia tăng áp lực lạm phát cầu kéo ở một số lĩnh vực. Trong nửa đầu năm 2026, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, tiêu dùng hộ gia đình, du lịch và dịch vụ phục hồi tích cực, kéo theo giá các dịch vụ lưu trú, ăn uống, văn hóa, giải trí và du lịch tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, áp lực cầu kéo chưa phải là nhân tố chi phối lạm phát bởi lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm chỉ tăng 4,12%, thấp hơn mức tăng của CPI bình quân (4,38%).

Thứ năm, biến động tỷ giá và giá hàng hóa nhập khẩu làm gia tăng lạm phát nhập khẩu nhưng mức độ truyền dẫn được kiểm soát. Trong bối cảnh đồng USD duy trì ở mức cao và giá nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới tăng, chi phí nhập khẩu của doanh nghiệp tăng theo. Chỉ số giá USD bình quân 06 tháng đầu năm 2026 tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá nhiều nguyên liệu đầu vào như xăng dầu, khí hóa lỏng, sắt thép và thức ăn chăn nuôi đều ở mức cao trong quý II/2026. Tuy nhiên, nhờ tỷ giá được điều hành linh hoạt, nguồn cung ngoại tệ ổn định và dự trữ hàng hóa trong nước dồi dào, tác động của lạm phát nhập khẩu chưa tạo ra cú sốc lớn đối với mặt bằng giá tiêu dùng.

Trước những biến động từ thị trường thế giới tác động đến trong nước, công tác điều hành giá của Chính phủ góp phần quan trọng kiềm chế tốc độ gia tăng của lạm phát. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Chính phủ và Ban Chỉ đạo điều hành giá tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp bình ổn thị trường, điều hành linh hoạt giá xăng dầu theo diễn biến quốc tế, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và kiểm soát chặt chẽ việc điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá. Nhờ đó, mặc dù CPI bình quân tăng 4,38%, mức tăng vẫn thấp hơn ngưỡng mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% do Quốc hội đề ra cho năm 2026. Điều này cho thấy hiệu quả của chính sách phối hợp giữa điều hành giá, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc giảm thiểu tác động của các cú sốc giá từ bên ngoài.

- Dựa trên việc phân tích xu hướng, theo PGS.TS , kịch bản lạm phát cho những tháng cuối năm 2026 như thế nào?

PGS.TS. Nguyễn Bá Minh: Trên cơ sở diễn biến kinh tế trong 6 tháng đầu năm và triển vọng các yếu tố vĩ mô, có thể xây dựng ba kịch bản lạm phát cho 6 tháng cuối năm 2026.

Kịch bản cơ sở được đánh giá có xác suất xảy ra cao nhất. Kịch bản này giả định giá dầu Brent dao động trong khoảng 85-95 USD/thùng, xung đột Trung Đông không mở rộng, nguồn cung lương thực trong nước ổn định, tỷ giá VND/USD biến động trong biên độ hẹp và việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý được thực hiện theo lộ trình phù hợp. Khi đó, CPI theo năm (so với cùng kỳ) có xu hướng giảm dần từ quý III/2026 nhờ hiệu ứng nền so sánh và sự hạ nhiệt của giá năng lượng, trong khi CPI bình quân cả năm được dự báo dao động 4,4-4,6%, tiệm cận mục tiêu điều hành của Quốc hội.

Kịch bản tích cực giả định giá dầu thế giới giảm xuống dưới 80 USD/thùng, chi phí vận tải quốc tế tiếp tục giảm, giá lương thực ổn định và tiến độ điều chỉnh giá dịch vụ công được giãn phù hợp. Trong trường hợp này, áp lực lạm phát chi phí đẩy sẽ giảm đáng kể trong quý IV/2026, giúp CPI bình quân cả năm duy trì khoảng 4,2-4,4%, thấp hơn ngưỡng mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đây là kịch bản tạo điều kiện thuận lợi để vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Kịch bản bất lợi xảy ra nếu xung đột địa chính trị tái leo thang, giá dầu Brent quay trở lại trên 110 USD/thùng, đồng USD tiếp tục tăng giá mạnh, cùng với việc điều chỉnh đồng thời giá điện, dịch vụ y tế, giáo dục và giá lương thực trong nước. Khi đó, lạm phát nhập khẩu và lạm phát chi phí đẩy sẽ gia tăng đáng kể, khiến CPI bình quân cả năm có thể vượt 4,8-5,0%, cao hơn mục tiêu Quốc hội đề ra và tương đối gần với dự báo của IMF. Trong kịch bản này, dư địa điều hành chính sách tiền tệ sẽ bị thu hẹp và yêu cầu phối hợp giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và điều hành giá sẽ trở nên cấp thiết hơn.

Trước những biến động từ thị trường thế giới tác động đến trong nước, công tác điều hành giá của Chính phủ góp phần quan trọng kiềm chế tốc độ gia tăng của lạm phát. Ảnh minh họa: Gemadept.

Tổng hợp các yếu tố nêu trên cho thấy kịch bản cơ sở có khả năng xảy ra cao nhất. Mặc dù áp lực lạm phát vẫn còn hiện hữu trong những tháng cuối năm, việc giá dầu đã hạ nhiệt từ cuối tháng 6/2026, nguồn cung hàng hóa trong nước được bảo đảm và công tác điều hành giá tiếp tục được thực hiện chủ động là những yếu tố quan trọng giúp CPI bình quân năm 2026 nhiều khả năng được duy trì trong khoảng tăng 4,4-4,6% so với năm trước. Tuy nhiên, khoảng dự báo này vẫn rất nhạy cảm với biến động địa chính trị, tỷ giá và tiến độ điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý; do đó, việc cập nhật dự báo theo quý là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.

Nâng cao chất lượng công tác dự báo và phối hợp chính sách

- Để hiện thực hóa kịch bản cơ sở và đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% của Quốc hội, theo ông, sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và quản lý giá của Chính phủ cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào?

PGS.TS. Nguyễn Bá Minh: Như tôi đã phân tích ở trên, lạm phát trong 6 tháng đầu năm 2026 chủ yếu chịu tác động của các yếu tố chi phí đẩy, đặc biệt là biến động giá năng lượng, lương thực, thực phẩm, lạm phát nhập khẩu và việc điều chỉnh giá một số hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý. Trong bối cảnh áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trong những tháng cuối năm, việc điều hành chính sách cần hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát gắn với duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.

Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động và linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Ngân hàng Nhà nước cần điều hành linh hoạt tỷ giá và thanh khoản hệ thống, kiểm soát tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế, ưu tiên vốn cho lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu và các ngành tạo động lực tăng trưởng, đồng thời hạn chế dòng vốn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, góp phần giảm áp lực lạm phát nhập khẩu và bảo đảm ổn định thị trường tài chính.

Thứ hai, phát huy vai trò của chính sách tài khóa và điều hành giá trong kiểm soát chi phí đầu vào. Cần sử dụng linh hoạt các công cụ thuế, phí đối với xăng dầu khi giá năng lượng thế giới biến động mạnh; đồng thời, điều chỉnh giá điện, y tế, giáo dục và các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình phù hợp, tránh điều chỉnh đồng thời trong thời điểm CPI chịu nhiều sức ép. Việc tăng cường dự trữ và bình ổn thị trường đối với các mặt hàng thiết yếu, nhất là lương thực, thực phẩm và xăng dầu, sẽ góp phần hạn chế tác động lan tỏa của các cú sốc giá quốc tế đến thị trường trong nước.

Thứ ba, tăng cường bảo đảm nguồn cung và giảm thiểu lạm phát nhập khẩu thông qua đa dạng hóa thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Cần theo dõi chặt chẽ diễn biến giá hàng hóa thế giới, tỷ giá và các rủi ro địa chính trị để chủ động xây dựng các kịch bản điều hành phù hợp, nhất là đối với các mặt hàng có tác động lớn đến CPI như năng lượng, lương thực và vật liệu xây dựng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác dự báo và phối hợp chính sách giữa các cơ quan quản lý. Việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về lạm phát trên cơ sở cập nhật thường xuyên diễn biến giá hàng hóa quốc tế, tỷ giá, chi phí vận tải và cung – cầu trong nước sẽ giúp nâng cao tính chủ động trong điều hành. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công Thương và Cục Thống kê trong chia sẻ thông tin, xây dựng kịch bản điều hành và đánh giá tác động chính sách nhằm bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% trong năm 2026.

Xin cảm ơn PGS.TS!

Sáu tháng đầu năm 2026, lạm phát của Việt Nam chịu tác động đồng thời từ biến động kinh tế thế giới và các yếu tố trong nước, trong đó giá năng lượng, lương thực, thực phẩm, lạm phát nhập khẩu và điều chỉnh giá một số hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý là những nhân tố chủ yếu. Mặc dù CPI bình quân tăng 4,38%, tiệm cận mục tiêu kiểm soát lạm phát, mặt bằng giá cơ bản vẫn được duy trì ổn định nhờ sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và điều hành giá. Dự báo, áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm vẫn hiện hữu do rủi ro địa chính trị và biến động giá hàng hóa quốc tế. Vì vậy, việc điều hành chính sách cần tiếp tục chủ động, linh hoạt và phối hợp đồng bộ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Nguyên Thành (thực hiện)