Đóng

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Xăng E10 góp phần nâng cao tính tự chủ về an ninh năng lượng

Xăng sinh học E10 đã ghi nhận những tín hiệu tích cực, mở ra kỳ vọng trở thành trụ cột mới trong chiến lược an ninh năng lượng và phát triển kinh tế xanh của Việt Nam.

Sau hơn một tháng được triển khai trên phạm vi toàn quốc, xăng sinh học E10 đã bước qua giai đoạn khởi động để bước vào "phép thử" quan trọng nhất là thực tiễn thị trường. Không chỉ đơn thuần là một loại nhiên liệu mới, E10 đang được nhìn nhận như một mắt xích trong chiến lược phát triển kinh tế xanh, giảm phát thải và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tại tọa đàm "Xăng E10: Bài toán khoa học và an ninh năng lượng quốc gia" do Báo Công Thương tổ chức sáng 2/7, các chuyên gia đã cùng phân tích những kết quả bước đầu sau hơn một tháng triển khai, đồng thời làm rõ cơ sở khoa học, kinh nghiệm quốc tế cũng như những điều kiện cần thiết để nhiên liệu sinh học phát triển bền vững tại Việt Nam.

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội), đã chia sẻ những đánh giá về kinh nghiệm quốc tế cũng như tác động của xăng E10 đối với hiệu quả vận hành động cơ, giảm phát thải và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội). Ảnh: Thanh Tuấn

Kinh nghiệm quốc tế mở hướng phát triển xăng sinh học tại Việt Nam

- Nhiều quốc gia đã triển khai thành công xăng sinh học từ khá sớm và coi đây là một cấu phần quan trọng trong chiến lược năng lượng. Từ những kinh nghiệm quốc tế mà ông đã nghiên cứu, đâu là những bài học Việt Nam có thể tham khảo khi triển khai xăng E10? Theo ông, xăng sinh học giữ vai trò như thế nào trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Xăng sinh học E10, thậm chí các loại xăng có tỷ lệ ethanol cao hơn hiện nay không còn là loại nhiên liệu mới trên thế giới. Rất nhiều quốc gia đã triển khai thành công việc sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học với tỷ lệ ethanol lớn, coi đây là một phần quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng.

Có thể lấy Brazil là một ví dụ điển hình. Quốc gia này sở hữu nguồn nguyên liệu mía rất dồi dào, tạo nền tảng vững chắc cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol. Ngay từ những năm 1970, Chính phủ Brazil đã triển khai các chương trình phát triển nhiên liệu sinh học, đồng thời ban hành nhiều chính sách hỗ trợ các nhà máy sản xuất ethanol cũng như khuyến khích phát triển các dòng phương tiện sử dụng nhiên liệu linh hoạt, có thể vận hành bằng xăng sinh học với tỷ lệ ethanol rất cao, thậm chí đến 100%.

Hiện nay, loại xăng sinh học có tỷ lệ ethanol thấp nhất được sử dụng phổ biến tại Brazil cũng đã ở mức khoảng 30%, trong khi các phương tiện nhiên liệu linh hoạt hoàn toàn có thể sử dụng ethanol nguyên chất.

Một mô hình thành công khác là Hoa Kỳ. Quốc gia này cũng triển khai chương trình phát triển nhiên liệu sinh học rất hiệu quả, đối với cả xăng sinh học và diesel sinh học. Trong đó, xăng E10 hiện là loại nhiên liệu phổ biến nhất. Bên cạnh đó còn có các loại E15 và E85 để người tiêu dùng lựa chọn. Để làm được điều này, Hoa Kỳ đã xây dựng chính sách phát triển vùng nguyên liệu ngô từ rất sớm, bởi đây là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ethanol.

Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan cũng là quốc gia có nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo. Hiện nay, khoảng 80% lượng xăng tiêu thụ trên thị trường nước này là xăng E10, trong khi xăng E20 cũng chiếm khoảng 16-17%. Thành công đó dựa trên lợi thế về nguồn nguyên liệu sắn và rỉ đường cùng hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ nhằm khuyến khích người dân sử dụng nhiên liệu sinh học.

Từ các mô hình quốc tế có thể thấy, yếu tố đầu tiên quyết định thành công chính là phát triển được nguồn nguyên liệu bền vững. Tuy nhiên, để xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định cần có hệ thống chính sách hỗ trợ dài hạn, nhất quán, không chỉ đối với sản xuất nguyên liệu mà còn cho toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất ethanol, pha chế, phân phối đến tiêu thụ.

Nếu duy trì được những chính sách ổn định và lâu dài, tôi tin rằng, chương trình phát triển nhiên liệu sinh học của Việt Nam sẽ đạt được những kết quả tích cực hơn nữa, qua đó góp phần nâng cao tính tự chủ về năng lượng và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.

Sử dụng xăng E10 ngoài lợi ích về môi trường còn mang lại lợi ích thiết thực cho người sử dụng phương tiện. Ảnh: Nam Nguyễn

Xăng E10 cải thiện khí thải, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng "0"

- Từ các nghiên cứu khoa học, ông đánh giá như thế nào về tác động của xăng E10 đối với hiệu suất cháy và xu hướng giảm phát thải của ngành giao thông vận tải hiện nay trong lộ trình hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam?

PGS.TS Phạm Hữu Tuyến: Chúng tôi đã phối hợp với nhiều đơn vị, doanh nghiệp liên quan, trong đó có các đơn vị sản xuất nhiên liệu và các nhà sản xuất ô tô, xe máy để thực hiện nhiều thử nghiệm trên các mẫu xe khác nhau.

Theo kết quả nghiên cứu trước đây của chúng tôi, cùng với thực tế khi sử dụng xăng E10 rộng rãi trên toàn quốc trong thời gian qua, xăng sinh học E10 có khả năng vận hành hoàn toàn tương đương với các loại xăng khoáng truyền thống, bảo đảm đầy đủ các tính năng kỹ thuật cơ bản của phương tiện.

Bên cạnh đó, xăng E10 còn mang lại một số lợi ích về mặt kỹ thuật, đặc biệt trong việc cải thiện chất lượng khí thải. Trong thành phần xăng sinh học E10 có khoảng 3,4% oxy. Hàm lượng oxy này giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra hiệu quả và triệt để hơn.

Thực tế, khi sử dụng xăng, quá trình cháy không phải lúc nào cũng hoàn toàn. Phần nhiên liệu chưa cháy hết sẽ sinh ra các chất phát thải độc hại như hydrocarbon (HC) và khí carbon monoxide (CO), gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.

Với lượng oxy bổ sung trong xăng E10, quá trình cháy sạch hơn, từ đó giúp giảm đáng kể lượng phát thải HC và CO. Hiệu quả này cũng được ghi nhận qua các kết quả quan trắc thực tế mà khi xăng sinh học E10 được sử dụng rộng rãi, chất lượng không khí đã có những cải thiện đáng kể.

Một thành phần phát thải khác cần nhắc đến là CO₂, một trong những khí nhà kính quan trọng. Trên thực tế, lượng CO₂ phát sinh trong quá trình động cơ đốt cháy nhiên liệu không giảm trực tiếp khi sử dụng xăng E10. Tuy nhiên, ethanol có nguồn gốc từ thực vật. Trong quá trình sinh trưởng, các cây nguyên liệu hấp thụ CO₂ từ khí quyển, vì vậy xét trên toàn bộ vòng đời của nhiên liệu, việc sử dụng xăng sinh học góp phần giảm phát thải CO₂ một cách có ý nghĩa.

Ngoài lợi ích về môi trường, việc cải thiện chất lượng khí thải còn mang lại lợi ích thiết thực cho người sử dụng phương tiện. Hiện nay, các chỉ tiêu phát thải như HC và CO đều được quy định trong Quy chuẩn Việt Nam đối với hoạt động kiểm tra, kiểm định phương tiện. Khi sử dụng xăng E10, lượng phát thải của các thành phần này được cải thiện, góp phần giúp phương tiện đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về khí thải trong quá trình kiểm định.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Sau hơn một tháng triển khai, các kết quả nghiên cứu và thực tế sử dụng cho thấy xăng sinh học E10 bảo đảm khả năng vận hành của phương tiện, đồng thời góp phần cải thiện chất lượng khí thải. Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, để nhiên liệu sinh học phát triển bền vững và trở thành trụ cột trong chiến lược an ninh năng lượng quốc gia, Việt Nam cần xây dựng chính sách ổn định, dài hạn gắn với phát triển vùng nguyên liệu và chuỗi sản xuất ethanol trong nước.

Nguyễn Hương