Làm rõ cách tính ưu đãi trong chương trình khuyến mại
Phát biểu tại phiên thảo luận, các đại biểu thống nhất với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung các luật, đồng thời góp ý hoàn thiện dự thảo nhằm bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đại biểu Trần Quốc Tuấn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long, thống nhất với sự cần thiết sửa đổi các luật trong lĩnh vực thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Đại biểu Trần Quốc Tuấn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long.
Qua nghiên cứu, đại biểu Trần Quốc Tuấn đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo đã tiếp thu hầu hết ý kiến của đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ. Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu góp ý hai vấn đề cần nghiên cứu nhằm nâng cao tính khả thi.
Thứ nhất, cần làm rõ cách tính ưu đãi trong chương trình khuyến mại có nhiều bên tham gia. Đại biểu Trần Quốc Tuấn đề nghị hoàn thiện khoản 4 Điều 94 Luật Thương mại tại khoản 2 Điều 1 của dự thảo luật.
Theo đại biểu Trần Quốc Tuấn, với chương trình trên sàn thương mại điện tử hoặc ứng dụng mua bán trực tuyến, có thể có nhiều bên cùng tài trợ: người bán giảm giá, sàn cấp mã ưu đãi, ngân hàng hoàn lại một phần tiền. Do vậy, rất cần thống nhất cách tính ưu đãi người mua thực nhận, công khai giá làm căn cứ giảm giá và các điều kiện áp dụng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng bên để tránh tính trùng.
Dẫn báo cáo của Cục Thương mại điện tử, Bộ Công Thương, đại biểu Trần Quốc Tuấn cho biết, năm 2025, quy mô thương mại điện tử của Việt Nam đạt trên 31 tỷ USD, tăng khoảng 25,5%. Thương mại điện tử đang phát triển rất nhanh nên rất cần quy định rõ hơn về quy tắc tính ưu đãi để bảo vệ người mua hàng, giúp doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, tạo căn cứ pháp lý cho việc kiểm tra thống nhất. Đại biểu Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh, khi ưu đãi minh bạch về giá trị, rõ về trách nhiệm thực hiện giữa các bên thì thị trường số có thể phát triển lành mạnh.
Thứ hai, đại biểu Trần Quốc Tuấn đề nghị bổ sung quy định phối hợp xử lý vi phạm cạnh tranh trên môi trường số. Cụ thể, bổ sung khoản 5 Điều 7 Luật Cạnh tranh tại Điều 2 dự thảo luật, giao Chính phủ quy định cơ chế phối hợp giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, lực lượng Quản lý thị trường và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cơ chế này cần làm rõ trách nhiệm tiếp nhận, trao đổi, chuyển thông tin, tài liệu, chứng cứ điện tử; đầu mối xử lý; thời hạn phối hợp, bảo đảm mỗi cơ quan xử lý đúng thẩm quyền, không bỏ sót hoặc xử lý trùng một vụ việc.
Bảo đảm nguồn lực thực thi tại các địa phương
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu, Đoàn TP. Huế góp ý về thời hiệu xử phạt vi phạm cạnh tranh. Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, khoản 22 Điều 2 dự thảo bổ sung Điều 94a Luật Cạnh tranh. Khoản 2 của điều này trong dự thảo quy định thời hiệu là 5 năm đối với nhóm hành vi tại điểm a khoản 1, tính đến ngày ra quyết định điều tra.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Huế phát biểu.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị sửa theo hướng: đối với hành vi đã chấm dứt, thời hiệu tính từ ngày chấm dứt; đối với hành vi đang diễn ra, thời hiệu tính từ ngày phát hiện; thời gian từ ngày ban hành quyết định điều tra đến ngày ban hành quyết định xử lý không tính vào thời hiệu. Tuy nhiên, quyết định điều tra phải được ban hành khi thời hiệu chưa hết, không làm phát sinh hoặc khôi phục thời hiệu đã hết.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, cách viết này tránh tình trạng thời hiệu hết trong quá trình điều tra chính thức, bảo đảm đồng bộ với thời hạn điều tra, ra quyết định và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Về tiền phạt, khoản 24 Điều 2 dự thảo sửa Điều 111 nhưng chưa rõ cách kiểm chứng doanh thu. Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 111, yêu cầu trong quyết định phải nêu rõ nguồn dữ liệu hợp pháp, kỳ tính doanh thu, thị trường liên quan, phương pháp xác định doanh thu, cách xử lý số liệu mâu thuẫn giữa báo cáo tài chính, hồ sơ thuế, sổ kế toán, dữ liệu giao dịch, đồng thời bảo đảm quyền giải trình.
Về khoản 7 Điều 1 dự thảo sửa khoản 3 Điều 256 Luật Thương mại, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị bổ sung khả năng xác định chủ thể, thời điểm tạo lập, lịch sử thay đổi; việc ghi nhận truy cập, chỉnh sửa thực hiện theo pháp luật về giao dịch điện tử.
Về ủy quyền giám định, khoản 9 Điều 1 dự thảo sửa Điều 267 Luật Thương mại, áp dụng khi thương nhân nước ngoài được thuê giám định nhưng chưa đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu đề nghị yêu cầu văn bản ủy quyền nêu rõ phạm vi, nội dung giám định, trách nhiệm lưu hồ sơ và người ký chứng thư.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh, cần giữ nguyên trách nhiệm của thương nhân nước ngoài về kết quả giám định; thương nhân Việt Nam chịu trách nhiệm về phần việc mình thực hiện và chứng thư mình ký. Không nên diễn đạt theo cách thu hẹp trách nhiệm của bên nước ngoài.
Về xuất xứ hàng hóa, khoản 8 Điều 3 dự thảo sửa Điều 35 Luật Quản lý ngoại thương, hiện phân công nhiệm vụ cho Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị bổ sung khoản 4, khoản 5 Điều 35. Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị giao Bộ Công Thương làm đầu mối trao đổi thông tin, yêu cầu xác minh với nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế quy định khác; không thay thế thẩm quyền của các cơ quan khác.
Đối với khoản 5, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị bổ sung quy định các cơ quan chia sẻ kết quả theo thẩm quyền, không yêu cầu nộp lại thông tin còn giá trị đã có trong hệ thống và có thể khai thác hợp pháp. Khi kiểm tra trùng lặp hoặc có kết quả khác nhau, cần xác định cơ quan chủ trì, chia sẻ chứng cứ và xử lý khác biệt.
Đối với bảo vệ người tiêu dùng, đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho rằng, cần quy định thêm trách nhiệm tập huấn, bố trí nhân lực, kinh phí, hạ tầng và chuyển giao các vụ việc phức tạp, liên tỉnh hoặc vượt thẩm quyền. Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị bổ sung quy định giao cấp tỉnh điều phối, bảo đảm nguồn lực theo phân cấp ngân sách; vụ việc liên tỉnh được chuyển đến cơ quan trung ương có thẩm quyền theo quy trình của Chính phủ.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu đề nghị chỉnh lý, bổ sung về thời hiệu, căn cứ tính chế tài, truy xuất hồ sơ, trách nhiệm ủy quyền giám định, điều phối xác minh xuất xứ, cùng thời điểm có hiệu lực, quy định chuyển tiếp và năng lực thực thi của địa phương; các nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý cần được luật quy định; bảo đảm luật minh bạch, khả thi...