Với phạm vi nghiên cứu hơn 11.400 ha, dân số dự báo có thể đạt 1,2 triệu người và tổng mức đầu tư sơ bộ gần 737.000 tỷ đồng, quy hoạch hai bên sông Hồng đặt Hà Nội trước bài toán lớn về giới hạn khai thác không gian ven sông và phần diện tích cần dành cho dòng nước. Kinh nghiệm của nhiều đô thị ven sông cho thấy phát triển đô thị phải được tính đồng thời với an toàn phòng, chống lũ ngay từ khâu quy hoạch.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm xác định mục tiêu xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc", lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội với các giá trị "Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo", đồng thời Hà Nội định hướng phát triển nhanh, bền vững, thông minh, hiện đại gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Quy hoạch tổ chức Thủ đô theo cấu trúc đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm và lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái, văn hóa chủ đạo.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô xác lập 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực nhằm hình thành mạng lưới không gian kinh tế đô thị mới cho Hà Nội trong nhiều thập niên tới. Trong cấu trúc đó, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được xác định là một trong các trục động lực phát triển của Thủ đô, giữ vai trò trục không gian xanh trung tâm gắn với kinh tế, thương mại, dịch vụ, đô thị, văn hóa sáng tạo và khoa học công nghệ dọc hai bờ.
Sông Hồng từng giữ vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển Hà Nội, song hệ thống đê được xây dựng để bảo vệ đô thị trước lũ cũng tạo ranh giới vật lý giữa dòng sông với nhiều khu vực phát triển của thành phố. Hạ tầng giao thông và hạ tầng kỹ thuật ngoài đê còn thiếu đồng bộ, nhiều đoạn bãi chưa được khai thác tương xứng với vị trí của trục cảnh quan trung tâm, trong khi tình trạng lấn chiếm đất ven sông và ô nhiễm môi trường vẫn tồn tại.
Từ thực tế trên, Hà Nội đang điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000 để phục vụ Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Hồ sơ lấy ý kiến xác định mục tiêu hình thành trục không gian xanh trung tâm gắn với văn hóa sáng tạo, phát triển kinh tế, xã hội và tạo diện mạo mới cho hai bờ sông. 6 giá trị cốt lõi được đặt ra gồm an toàn phòng chống lũ, sinh thái, hạ tầng, chuyển đổi chức năng, phát triển kinh tế và văn hóa văn minh.
Phối cảnh không gian phát triển hai bên sông Hồng.
Phạm vi nghiên cứu kéo dài khoảng 40 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ cầu Hồng Hà tới cầu Mễ Sở, đi qua 16 xã, phường với tổng diện tích khoảng 11.418 ha. Dân số hiện trạng khoảng 279.525 người.
Cơ cấu sử dụng đất hiện trạng phản ánh rõ đặc trưng của một vùng bãi sông: Mặt nước chiếm khoảng 3.626 ha (tương đương gần 30% diện tích nghiên cứu), trong đó mặt nước sông khoảng 3.378 ha. Đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.741 ha (chiếm hơn 50%). Đất ở dân cư khoảng 1.102 ha (gần 10%) và các chức năng khác khoảng 949 ha.
Bởi vậy, hơn 11.400 ha ven sông Hồng không phải quỹ đất trống chờ phát triển đô thị. Dòng sông, bãi, ruộng, làng xóm, khu dân cư và gần 280.000 người đang cùng tồn tại trong không gian này.
Đồ án dự báo dân số tương lai khoảng 800.000 - 1,2 triệu người. Chỉ tiêu sử dụng đất dân dụng khoảng 55 m²/người, đất đơn vị ở khoảng 15 m²/người. Mật độ xây dựng gộp dự kiến tối đa 60% đối với khu dịch vụ - công cộng, 35 - 40% với nhóm nhà ở, 25% với công viên chuyên đề và 5% với công viên công cộng.
Các khu phát triển mới phổ biến 30 - 45 tầng; công trình điểm nhấn được đề xuất là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng, trong khi làng xóm truyền thống dự kiến khoảng 3 tầng và tiếp tục được xem xét ở bước quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500.
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất trong hồ sơ điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000. Đồ án chia tuyến sông thành 3 phân đoạn, đánh số từ D1 tới D3.
Một trong những thông số quan trọng nhất của phương án là khoảng 3.900 ha diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông. Theo hồ sơ, con số này tăng so với mức 2.128 ha trong Quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình theo Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18/2/2016 do Thủ tướng Chính phủ ban hành; sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 429/QĐ-TTg ngày 21/04/2023.
Hai hoạt động "xây dựng" và "tôn cao" đang được tính chung trong con số 3.900 ha nhưng có tính chất khác nhau. Xây dựng nhà ở hoặc công trình dịch vụ không đồng nhất với tôn nền phục vụ công viên, giao thông hay không gian công cộng. Tác động đến dòng chảy còn phụ thuộc vị trí, cao trình, hình thức sử dụng đất và mật độ công trình tại từng khu vực.
Cũng theo hồ sơ, phương án tổ chức không gian bãi sông dựa trên 3 mức cao độ. Khu vực trên 11,5 m có thể nghiên cứu xây dựng mới. Vùng cao từ 9,5 - 11,5 m là không gian linh hoạt, có thể tổ chức công trình thích ứng và duy trì dân cư hiện có. Khu vực dưới 9,5 m ưu tiên phục hồi sinh thái, giao thông chậm và cảnh quan đường dạo.
Báo cáo mô hình thủy văn, thủy lực và đánh giá tác động tới khả năng thoát lũ do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam lập. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng UBND TP. Hà Nội đã có Thông báo số 467/TB-(BNNMT-UBTPHN) ngày 6/5/2026 sau buổi làm việc về tính toán thủy lực và an toàn thoát lũ của khu vực dự án.
Tuy nhiên, con số khoảng 3.900 ha diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông mới phản ánh quy mô chung của phương án. Để đánh giá đầy đủ tác động tới dòng chảy, hồ sơ cần bóc tách rõ diện tích xây dựng, diện tích tôn cao, vị trí từng khu vực và các thông số tương ứng về lưu lượng, mực nước, vận tốc dòng chảy cùng khả năng thoát lũ.
Các dữ liệu này càng được trình bày cụ thể, việc đánh giá phương án càng có cơ sở. Với một quy hoạch tác động trực tiếp tới địa hình bãi sông, câu hỏi quan trọng không nằm riêng ở tổng diện tích được khai thác mà ở chỗ dòng nước sẽ thay đổi thế nào trên từng đoạn sau khi cao độ và chức năng sử dụng đất thay đổi.
Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng chủ trì kiểm tra hiện trường công tác tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với 2 nhóm đồ án quy hoạch (Đồ án Điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị Sông Hồng và Đồ án Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B khu vực hồ Gươm và phụ cận), ngày 12/9/2026.
Bên cạnh đó, không gian sông Hồng còn là hành lang văn hóa đặc biệt của Hà Nội với 123 công trình di tích trong phạm vi quy hoạch, gồm 1 di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố và 61 di tích chưa được xếp hạng. Khu vực còn có 14 địa điểm lưu niệm gắn với các sự kiện cách mạng và kháng chiến.
Con số này đặt thêm yêu cầu cho quy hoạch, trục sông Hồng sẽ không thể được tổ chức như hành lang phát triển đô thị thuần túy. Hệ thống công viên, đường giao thông, khu đô thị, công trình dịch vụ và các không gian công cộng mới phải được đặt trong quan hệ với mạng lưới di sản, làng xóm truyền thống và cảnh quan văn hóa đã tồn tại lâu đời hai bên bờ.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô đặt sông Hồng vào vị trí trục cảnh quan sinh thái, văn hóa chủ đạo của Hà Nội trong tầm nhìn dài hạn. Vì vậy, thước đo của lần điều chỉnh quy hoạch này sẽ không nằm riêng ở số kilomet đại lộ được xây dựng hay số hecta đất được đưa vào khai thác. Bài toán lớn hơn là tổ chức không gian ven sông vừa bảo đảm an toàn phòng chống lũ, mở thêm dư địa phát triển kinh tế và đô thị, tạo không gian công cộng cho người dân, bảo tồn lớp trầm tích văn hóa đồng thời giữ đủ chỗ cho dòng sông trước những biến động của nhiều thập niên tới.
UBND TP. Hà Nội cho biết, sẽ tiếp tục hoàn thiện các thủ tục quy hoạch của Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, đồng thời ưu tiên triển khai các dự án phục vụ tái định cư, tái thiết trước khi thực hiện đồng bộ những hạng mục còn lại.
Thành phố đã giao UBND phường Hồng Hà phối hợp với nhà đầu tư lựa chọn địa điểm trưng bày quy hoạch dự án và căn hộ mẫu của các khu đô thị phục vụ định cư. Những dự án thành phần còn lại sẽ được phân kỳ đầu tư theo quy mô, phạm vi và điều kiện triển khai thực tế.
Tiến độ đầu tư mới là một phần của bài toán, với dự án sử dụng diện tích lớn trên bãi sông, giới hạn khai thác đất còn phải đặt trong hành lang pháp lý về đê điều, phòng chống lũ và sử dụng bãi sông.
Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, kỳ họp thứ 1 thông qua ngày 23/4/2026 (gọi tắt là Luật Thủ đô năm 2026) đã tạo khung pháp lý mới đối với đất bãi sông.
Điểm d khoản 2 Điều 24 giao HĐND TP. Hà Nội thẩm quyền quy định tỷ lệ sử dụng đất bãi sông, bãi nổi để xây dựng mới công trình và nhà ở, trên cơ sở phù hợp với Quy hoạch tổng thể Thủ đô, quy hoạch đê điều, phòng chống lũ và các quy hoạch liên quan.
Cùng điều khoản này, luật đặt ra giới hạn rõ ràng, phần bãi còn lại có thể bố trí công trình phục vụ không gian công cộng, mục đích công cộng nhưng không được tôn cao nếu ảnh hưởng đến dòng chảy. Có thể hiểu đơn giản, Hà Nội được trao thêm quyền chủ động đối với đất bãi sông nhưng quyền phải đi cùng yêu cầu bảo đảm an toàn thoát lũ. Bao nhiêu diện tích được phép xây dựng cần được xác định cụ thể; phần còn lại cũng không thể tùy ý nâng nền để mở rộng không gian khai thác.
Trước Luật Thủ đô năm 2026, hành lang pháp lý đối với bãi sông Hồng đã được xác lập tại Quyết định số 257/QĐ-TTg về Quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình. Năm 2023, Quyết định số 429/QĐ-TTg tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến sử dụng bãi sông.
Đối với các bãi Tầm Xá, Xuân Canh và Long Biên, Cự Khối thuộc khu vực đô thị trung tâm Hà Nội, quy định cho phép sử dụng một tỷ lệ nhất định nhưng phải tính cả diện tích xây dựng công trình, nhà ở mới và phần bãi được tôn cao.
Các khu vực bãi khác muốn nghiên cứu xây dựng phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện về chiều rộng bãi, vận tốc dòng chảy ứng với lũ thiết kế và giới hạn tổng diện tích xây dựng, tôn cao. Trường hợp đề xuất tỷ lệ xây dựng cao hơn mức thông thường trên một bãi, địa phương phải có tính toán chứng minh khả năng thoát lũ và an toàn đê điều; tổng diện tích xây dựng mới trên toàn tuyến vẫn phải tuân thủ giới hạn chung.
Các quy định kỹ thuật khác nhau nhưng có thể quy về nguyên tắc bãi sông không phải quỹ đất đô thị thông thường. Mỗi phần diện tích được đưa vào khai thác phải đi kèm tính toán chứng minh dòng sông vẫn đủ không gian thoát nước, hệ thống đê bảo đảm an toàn và rủi ro không bị đẩy sang khu vực khác.
Nghị quyết về chủ trương đầu tư chia toàn bộ dự án thành 18 dự án thành phần thuộc 5 nhóm. Trong đó, nhóm công viên có 11 dự án, phân bố dọc hai bờ sông Hồng.
Tổng quy mô của 11 dự án công viên khoảng 3.513,4 ha, tương đương 30,8% phạm vi nghiên cứu 11.418 ha. Như vậy, xét theo quy mô các dự án thành phần, nhóm công viên chiếm gần một phần ba toàn khu vực nghiên cứu.
Đặt cạnh khoảng 2.655,8 ha quỹ đất dự kiến thanh toán cho nhà đầu tư, quy mô nhóm công viên lớn hơn khoảng 857,6 ha, tương đương 1,32 lần. Phép so sánh này giúp hình dung tương quan giữa hai nhóm đất song chưa đủ để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án hay trả lời các băn khoăn liên quan đến phát triển bất động sản. Muốn đánh giá đầy đủ cần xem thêm giá trị từng khu đất, chức năng sử dụng, quyền phát triển, nghĩa vụ đầu tư hạ tầng và cơ chế thanh toán cho nhà đầu tư.
Công viên trên bãi sông có yêu cầu khác với công viên trong khu đô thị thông thường. Một số khu vực chịu tác động của ngập lũ nên phương án thiết kế phải tính kỹ cao độ nền, chủng loại cây, vật liệu, kết cấu công trình và khả năng phục hồi sau mỗi đợt nước lớn.
Với tổng quy mô khoảng 3.513,4 ha, bài toán không dừng ở chi phí đầu tư ban đầu mà còn kéo dài sang khâu vận hành và duy tu. Do đó hồ sơ dự án cần làm rõ nhu cầu kinh phí, cơ chế quản lý và nguồn lực bảo đảm hoạt động ổn định của hệ thống công viên sau khi đưa vào sử dụng.
Trong lịch sử phát triển đô thị, sông vừa cung cấp nước, vừa đảm nhiệm giao thông, sản xuất và tạo động lực kinh tế. Quá trình công nghiệp hóa sau đó khiến nhiều đoạn bờ sông bị cảng, nhà máy, kho bãi, đường giao thông và các công trình kỹ thuật chiếm lĩnh. Tại nhiều thành phố, người dân sống ngay cạnh sông nhưng ngày càng khó tiếp cận mặt nước.
Tư duy quy hoạch thay đổi mạnh trong những thập niên gần đây, nhiều thành phố chuyển từ mục tiêu chủ yếu là kiểm soát dòng sông sang tổ chức không gian đa chức năng, trong đó an toàn lũ, sinh thái, giao thông, văn hóa, kinh tế và khả năng tiếp cận của người dân được giải quyết cùng nhau.
Hà Lan dành thêm không gian cho dòng nước. Quy hoạch sông và đô thị ven nước của Hà Lan nổi tiếng thế giới với triết lý "nhường chỗ cho nước" (Room for the River) thay vì chỉ tìm cách ngăn chặn hay đẩy nước đi bằng đê điều cứng nhắc.
Những đợt nước lớn đầu thập niên 1990 thúc đẩy nước này thay đổi tư duy quản lý sông. Năm 1993, khoảng 18.000 ha tại Limburg bị ngập và khoảng 12.000 người phải sơ tán. Đầu năm 1995, khoảng 250.000 người cùng một triệu vật nuôi ở Gelderland được sơ tán để phòng nguy cơ đê vỡ.
Chương trình "Room for the River" sau đó triển khai 39 biện pháp tại 34 địa điểm trên các hệ thống sông chính với tổng kinh phí khoảng 2,3 tỷ euro. Các giải pháp gồm dời đê vào sâu hơn trong đất liền, đào lạch phụ, hạ thấp bãi và tạo thêm những khu vực có khả năng dẫn, chứa nước trong mùa lũ.
Noordwaard là một trường hợp tiêu biểu, khoảng 4.450 ha được tổ chức lại để tăng khả năng dẫn và chứa nước, một số nhà ở, trang trại được bố trí trên các gò cao để duy trì sinh hoạt trong thời gian nước dâng. Cách làm của Hà Lan không dựa vào giải pháp duy nhất, khu vực cần dành chỗ cho nước được hạ thấp hoặc mở rộng, còn nơi cần bảo vệ dân cư có thể được nâng cao cục bộ. Do đó, phân vùng đều bắt đầu bằng câu hỏi khu vực nào phải dành cho dòng nước, phần nào có thể phát triển và khoảng không gian nào cần giữ lại cho những tình huống chưa xuất hiện.
Tư duy này tiếp tục được mở rộng với "Room for the River 2.0" khởi động năm 2025 nhằm xác định nhu cầu không gian của các dòng sông trong nhiều thập niên tới trước những kịch bản khí hậu và thủy văn mới.
Nhật Bản phát triển loại đê tiêu chuẩn cao. Quốc gia này tiếp cận bài toán ven sông theo hướng đầu tư mạnh cho khả năng bảo vệ. Giải pháp đặc trưng là hệ thống đê tiêu chuẩn cao, thường gọi là "super levee". Loại đê này có mặt cắt rộng và thoải, bề rộng có thể gấp nhiều lần chiều cao nhằm tăng khả năng chống tràn, hạn chế thấm và giảm nguy cơ vỡ đê.
Luật Sông của Nhật Bản kiểm soát chặt hoạt động phát triển đất ven sông; những khu vực đã được bảo vệ bằng loại công trình này mới có thể áp dụng cơ chế sử dụng đất phù hợp hơn.
Nhật Bản cũng không coi những công trình phòng lũ quy mô lớn là lời giải tuyệt đối, các kịch bản sự cố tại khu vực Iwabuchi nhắc rằng hệ thống cảnh báo, sơ tán và phương án ứng phó vẫn phải duy trì cho những tình huống vượt giả thiết thiết kế.
Nhật Bản còn một kinh nghiệm đáng tham khảo ở sông Sumida, dòng sông đi qua khu vực đô thị đông dân phía đông Tokyo. Sumida dài 23,5 km, chảy qua địa bàn 7 quận. Tính cả thượng nguồn Shingashi, lưu vực rộng khoảng 690 km² với khoảng 3,3 triệu người sinh sống. Dòng sông từng trải qua thời kỳ ô nhiễm nghiêm trọng, năm 1961, BOD của nước sông lên tới 37,8 mg/l, chất lượng nước xuống thấp tới mức một số hoạt động văn hóa truyền thống phải ngừng tổ chức.
Quá trình phục hồi sau đó kéo dài nhiều năm, chính quyền bắt đầu nạo vét bùn, đất và cát dưới đáy sông từ năm 1958, đồng thời bổ sung nguồn nước sạch hơn qua hệ thống kết nối với các dòng sông khác. Đến năm 1978, những dấu hiệu phục hồi của sinh vật thủy sinh mới xuất hiện rõ hơn.
Khoảng thời gian gần hai thập niên từ những biện pháp xử lý ban đầu tới khi hệ sinh thái bắt đầu phục hồi cho thấy cải tạo một dòng sông đô thị cần thời gian dài hơn tiến độ xây dựng hạ tầng. Đường ven sông hoặc công viên có thể hoàn thành trong vài năm, còn chất lượng nước và hệ sinh thái đòi hỏi quá trình phục hồi lâu dài và liên tục.
Sau khi môi trường từng bước được cải thiện, Tokyo tiếp tục mở rộng các tuyến đi bộ, không gian sinh hoạt cộng đồng và những điểm tiếp cận mặt nước. Năm 2011, Nhật Bản sửa quy định về sử dụng bãi sông, cho phép khu vực tư nhân tham gia một số hoạt động kinh doanh tại những địa điểm đáp ứng đủ điều kiện.
Sông Hàn tại Hàn Quốc là biểu tượng hào hùng cho sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế đất nước này, đồng thời là linh hồn và niềm tự hào của Thủ đô Seoul.
Seoul (Hàn Quốc) đưa sông Hàn trở lại đời sống đô thị. "Kỳ tích sông Hàn" thường được nhắc tới như biểu tượng cho quá trình Hàn Quốc vươn lên mạnh mẽ, phía sau thành tựu kinh tế đó còn là câu chuyện quy hoạch kéo dài nhiều thập niên. Seoul từng bước biến sông Hàn từ ranh giới tự nhiên thành trục hạ tầng quan trọng, rồi tiếp tục điều chỉnh để dòng sông trở thành không gian công cộng gắn với đời sống hằng ngày.
Nghiên cứu "The Han River Development: Planning the Riverfront as Seoul’s Natural Landmark" của Jieheerah Yun, Đại học Hongik, công bố trên tạp chí Sustainability năm 2022 từng chỉ ra sông Hàn không phát triển thành cảng công nghiệp quy mô lớn như nhiều đô thị phương Tây. Trong ký ức của phần lớn người dân, bờ sông thời kỳ này chủ yếu là bãi cát, đất trống, đất canh tác và một số khu dân cư thay vì tập trung các công trình thương mại lớn.
Bước ngoặt đến cùng quá trình Seoul mở rộng nhanh từ thập niên 1960-1980. Kiểm soát lũ, xây cầu, đường ven sông và phát triển các khu đô thị phía nam sông Hàn trở thành những cấu phần của quá trình mở rộng thành phố. Hạ tầng giúp Seoul khai thác thêm quỹ đất và tăng kết nối hai bờ nhưng cũng tạo ra những lớp ngăn cách mới giữa đô thị với mặt nước.
Từ cuối thế kỷ XX, ưu tiên dần thay đổi, hệ thống "Hangang Park" bắt đầu được hình thành từ năm 1982 trong quá trình cải tạo bãi sông. Đến năm 1992, Seoul chính thức tổ chức 11 công viên Hangang với các chức năng khác nhau về sinh thái, thể thao, đi bộ, xe đạp, văn hóa và giải trí.
Năm 2007, Seoul triển khai Hangang Renaissance, chuyển trọng tâm mạnh hơn sang phục hồi sinh thái, cải thiện khả năng tiếp cận và phát triển các chức năng văn hóa ven sông. Giai đoạn đầu gồm 33 dự án thuộc 5 nhóm; nhiều không gian tại Yeouido, Ttukseom, Banpo và Nanji được cải tạo cùng với những công trình như đài phun nước Banpo và công viên sinh thái Yeouido Saetgang.
Đến năm 2023, Seoul tiếp tục mở rộng định hướng bằng Great Hangang Project với 55 dự án thuộc 4 nhóm chiến lược gồm thiên nhiên, khả năng tiếp cận, điểm đến và sức sống đô thị. Thành phố đặt mục tiêu phục hồi toàn bộ 57,1 km bờ sông có điều kiện cải tạo theo hướng gần tự nhiên, đồng thời lên kế hoạch trồng thêm khoảng 210.000 cây đến năm 2025. Hạ tầng xanh được đặt song song với giao thông, văn hóa, du lịch và phát triển đô thị ven sông.
Seoul cũng tìm cách “kích hoạt” những không gian đã được đầu tư. Cầu Jamsugyo định kỳ được chuyển từ công trình giao thông thành không gian dành cho người đi bộ với biểu diễn, chợ phiên, đọc sách và các hoạt động cộng đồng. Tính từ nửa cuối năm 2022 đến hết năm 2025, sự kiện đã thu hút cộng dồn khoảng 5,3 triệu lượt người.
Sông Hàn còn trở thành sân khấu của những sự kiện quy mô lớn. Lễ hội pháo hoa quốc tế Seoul nhiều năm thu hút khoảng 1 triệu người, trong khi riêng Seoul Spring Festival 2026, tổ chức tại các không gian ven sông như Yeouido, Ttukseom và Jamsil ghi nhận khoảng 7,06 triệu lượt người trong 26 ngày. Chính quyền thành phố cho biết, lượng khách lớn cũng tạo thêm dòng người và doanh thu cho các khu thương mại lân cận.
Sông Hoàng Phố là dòng sông nổi tiếng chảy xuyên qua trung tâm thành phố Thượng Hải. Đây được ví như "linh hồn" của đô thị phồn hoa bậc nhất châu Á.
Thượng Hải (Trung Quốc) mở lại bờ sông Hoàng Phố. Trong nhiều thập niên, hai bờ Hoàng Phố tập trung dày đặc cảng, nhà máy, kho hàng và hạ tầng vận tải phục vụ quá trình công nghiệp hóa. Các hoạt động này tạo nguồn lực lớn cho kinh tế Thượng Hải nhưng đồng thời khiến nhiều đoạn bờ sông bị chia cắt, hạn chế khả năng tiếp cận mặt nước của người dân.
Quá trình tái thiết diễn ra cùng với sự dịch chuyển dần các chức năng công nghiệp khỏi khu vực trung tâm. Cuối năm 2017, Thượng Hải hoàn thành kết nối liên tục khoảng 45 km bờ sông Hoàng Phố giữa cầu Yangpu và cầu Xupu. Những đoạn bờ từng bị ngăn cách bởi bến tàu, nhà máy và hạ tầng kỹ thuật được nối lại bằng đường đi bộ, đường xe đạp, công viên và các không gian mở.
Thượng Hải không lựa chọn cách xóa toàn bộ dấu tích công nghiệp để xây mới, nhiều công trình có giá trị được giữ lại và chuyển đổi chức năng. West Bund tại quận Xuhui là trường hợp tiêu biểu, khu vực từng tập trung bến cảng, kho xưởng và cơ sở sản xuất nay trở thành một cụm văn hóa, nghệ thuật, thương mại và giải trí ven sông.
Gate M West Bund Dream Center cũng thể hiện rõ cách làm này. Khu nhà máy xi măng có lịch sử hơn một thế kỷ được cải tạo thành tổ hợp văn hóa, thương mại, biểu diễn và giải trí rộng khoảng 162.000 m². Nhiều dấu tích kiến trúc công nghiệp được giữ lại và khoảng 800 m bờ sông được mở thành không gian công cộng.
Quá trình này vẫn đang tiếp tục, Kế hoạch phát triển hành lang sông Hoàng Phố và sông Tô Châu giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu bổ sung khoảng 100 ha không gian xanh và công cộng ven Hoàng Phố, xây dựng thêm 9 km bờ sông chất lượng cao tại khu vực trung tâm và kết nối thêm khoảng 52 km hành lang ven nước trên hệ thống sông chính cùng các phụ lưu.
Từ dòng chảy gắn với lịch sử Thăng Long - Hà Nội suốt hàng nghìn năm, sông Hồng vừa là yếu tố tự nhiên vừa là trục hình thành và phát triển đô thị. Trong tư duy quy hoạch mới, sông Hồng được xác định là trục cảnh quan trung tâm, đóng vai trò "xương sống" tổ chức không gian và là biểu tượng phát triển mới của Thủ đô.
Từ kinh nghiệm quốc tế trở lại bài toán sông Hồng...
4 mô hình trên không tạo thành một công thức có thể áp dụng nguyên vẹn cho Hà Nội. Mỗi nơi giải một phần khác nhau của bài toán ven sông, từ dành không gian cho nước, nâng mức độ bảo vệ, phục hồi sinh thái đến tổ chức lại bờ sông cho người dân và các hoạt động kinh tế. Điểm chung nằm ở yêu cầu xác định rõ giới hạn phát triển và cơ chế quản trị ngay từ khâu quy hoạch.
Bài học này cũng có thể nhìn từ thực tiễn Việt Nam. Báo cáo hoàn thành Dự án nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long của Ngân hàng Thế giới năm 2019 nhận xét cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý lũ tổng hợp còn hạn chế, có thể dẫn tới chồng chéo chức năng giữa các bộ, ngành và địa phương. Một báo cáo kỹ thuật của Ngân hàng Thế giới năm 2016 cũng khuyến nghị quản lý rủi ro theo lưu vực, xác định rõ đầu mối phụ trách và kết nối hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn với mạng lưới cảnh báo lũ.
Đồ án sông Hồng kéo dài khoảng 40 km, đi qua 16 xã, phường và liên quan trực tiếp tới trách nhiệm quản lý của Hà Nội cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hai cơ quan đã phối hợp trong giai đoạn lập quy hoạch, thể hiện qua Thông báo số 467/TB-(BNNMT-UBTPHN) ngày 6/5/2026 về các nội dung thủy văn, thủy lực, đê điều và an toàn thoát lũ.
Thách thức lớn hơn sẽ xuất hiện trong 12 năm triển khai dự án, từ 2026 - 2038, rồi tiếp tục trong suốt quá trình vận hành. Năng lực thoát lũ của toàn tuyến sẽ do cơ quan nào theo dõi, mô hình thủy lực được cập nhật ra sao nếu địa hình, công trình hoặc chế độ dòng chảy thay đổi, dữ liệu hai bờ được tổng hợp ở đâu và đầu mối nào chịu trách nhiệm cảnh báo nếu một dự án thành phần làm thay đổi kết quả tính toán chung là những vấn đề cần được xác định rõ.
Do đó, cơ chế điều phối xuyên suốt vòng đời dự án cần được đặt ra ngay từ đầu. Với sông Hồng đây là yêu cầu gắn trực tiếp với an toàn kỹ thuật của toàn tuyến.
Bên cạnh quản lý lũ, kinh nghiệm quốc tế còn đặt ra bài toán kết nối hai bờ. Công trình "Một cách hiểu sinh thái xã hội về đô thị hóa: trường hợp Vũ Hán, Trung Quốc" của Li Qin Zhang, bảo vệ tại Đại học Ottawa năm 2021 đã phân tích tác động của hệ thống sông nước tới cấu trúc phát triển đô thị Vũ Hán. Theo nghiên cứu, không gian xã hội của thành phố mở rộng dọc các dòng sông và theo trục đông - tây, trong khi hai bờ Trường Giang dần hình thành trục phát triển theo hướng bắc - nam.
Dòng sông ở Vũ Hán vừa tạo động lực mở rộng đô thị vừa có thể trở thành ranh giới phân hóa không gian. Nghiên cứu ghi nhận trong thập niên 1990, quá trình tái tạo đất đô thị tập trung nhiều ở phía bắc sông Hán và phía tây Trường Giang, phản ánh sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực.
Trường hợp Vũ Hán cũng gợi ra câu hỏi đối với Hà Nội về khả năng kết nối hai bờ sông Hồng. Trục phát triển dọc sông có thể kéo các khu vực lại gần nhau nhưng cũng có thể làm gia tăng chênh lệch về giá đất, hạ tầng và khả năng tiếp cận các chức năng đô thị nếu mạng lưới kết nối ngang không theo kịp.
Theo phương án đang lấy ý kiến, đại lộ cảnh quan Hữu Hồng dài khoảng 45,35 km, Tả Hồng hơn 35 km, tổng chiều dài hai tuyến hơn 80 km. Trên nhiều đoạn, tuyến chính được đề xuất 6 làn xe cơ giới, kết hợp 4 làn đường bên, tạo quy mô tới 10 làn xe. Một số khu vực sẽ điều chỉnh mặt cắt để phù hợp điều kiện thực tế và hạn chế tác động tới các công trình di tích.
Kết nối ngang sông được tính toán bằng hệ thống 17 cây cầu. Trong đó, 12 cầu đã có hoặc đang triển khai, 5 cầu nằm trong quy hoạch gồm Liên Trung, Tàm Xá, Cự Khối, Bát Tràng và Khuyến Lương. Các cầu mới sẽ bổ sung thêm những hướng kết nối giữa các khu vực hai bên sông, trong đó cầu Cự Khối nối Lĩnh Nam với Long Biên, cầu Bát Tràng nối Lĩnh Nam với Bát Tràng và cầu Khuyến Lương mở thêm hướng kết nối Hà Nội với Hưng Yên.
Hệ thống nút giao cũng được định hướng kết nối với các tuyến vành đai và trục hướng tâm, đưa đại lộ ven sông vào mạng lưới giao thông chung của thành phố. Phương án đồng thời tính tới đường sắt đô thị và giao thông đường thủy, qua đó tổ chức Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng như một hành lang giao thông đa phương thức thay vì một tuyến đường bộ độc lập.
Như vậy, bài toán kết nối hai bờ đã được cụ thể hóa hơn trong phương án mới. Tuy nhiên, số lượng cầu mới chỉ phản ánh một phần năng lực kết nối, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào vị trí, năng lực thông hành, thời điểm hoàn thành từng cầu và khả năng kết nối với mạng lưới giao thông phía sau hai bờ.
Với hơn 80 km đại lộ tính trên cả hai phía, yêu cầu quan trọng là tiến độ các cầu và các tuyến kết nối ngang phải theo kịp quá trình hình thành khu đô thị, công viên và hạ tầng dọc sông. Nếu các trục dọc phát triển nhanh hơn mạng lưới ngang, hai bờ vẫn có thể hình thành những dải đô thị tương đối tách biệt dù nằm trong cùng một không gian quy hoạch.
Với phạm vi 11.418 ha, gần 280.000 người đang sinh sống, dân số dự báo có thể lên tới 1,2 triệu người, khoảng 3.900 ha dành cho xây dựng và tôn cao cùng hàng nghìn hecta công viên, quy hoạch sông Hồng sẽ tác động trực tiếp đến diện mạo Hà Nội trong nhiều thập niên tới. Một quy hoạch có sức sống lâu dài phải đồng thời mở thêm dư địa phát triển cho Thủ đô, mang lại lợi ích thực chất cho người dân và bảo đảm không gian thoát lũ của sông Hồng trước những biến động ngày càng khó lường.