Đóng

Rộng cửa FTA: Doanh nghiệp Việt tận dụng cơ hội thực chiến ra sao?

Dù cánh cửa FTA mở ra không gian thương mại khổng lồ, không ít doanh nghiệp Việt vẫn "có vàng mà chưa biết cách dùng" do vướng quy tắc xuất xứ và thói quen làm hàng lối cũ. Nhìn từ thực tiễn kết nối đơn hàng toàn cầu, ông Nguyễn Tuấn Việt - CEO VIETGO đã chia sẻ bài toán gỡ điểm nghẽn và cách chuyển dịch từ "bán thứ mình có" sang "bán thứ thế giới cần".

Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới khi tham gia vào 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực và đang tiếp tục đàm phán nhiều thỏa thuận mới. Mạng lưới này kết nối Việt Nam với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm toàn bộ các đối tác thương mại lớn nhất toàn cầu, mở ra quyền truy cập ưu đãi thuế quan tới các thị trường chiếm trên 85% GDP thế giới. Sự phủ sóng quy mô này đã trở thành động lực then chốt đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam liên tục bứt phá, chính thức vượt mốc 730 tỷ USD, đưa Việt Nam vững vàng trong nhóm 20 nền kinh tế có quy mô thương mại quốc tế lớn nhất toàn cầu.

Từ các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA đến RCEP, khối thương mại tự do lớn nhất thế giới chiếm 30% dân số toàn cầu, hàng hóa Việt Nam không chỉ được cắt giảm thuế quan sâu rộng mà còn sở hữu không gian tăng trưởng vượt bậc tại các thị trường khó tính bậc nhất.

Tuy nhiên, từ những ưu đãi trên giấy tờ đến kim ngạch thực tế thu về tại mỗi chặng đường xuất khẩu lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Dù xuất khẩu liên tục lập kỷ lục, tỉ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan qua giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) trong nhiều FTA hiện chỉ dao động ở mức 33 - 34%, nghĩa là còn tới hơn 60% dư địa ưu đãi chưa được khai thác triệt để. Việc vượt qua các rào cản phi thuế quan khắt khe, đáp ứng quy tắc xuất xứ phức tạp, cho đến mức độ "thẩm thấu" chính sách và năng lực thực chiến của cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp cả nước vẫn là bài toán hóc búa.

Để có góc nhìn đa chiều, thực tế và sát với hơi thở thị trường, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tuấn Việt - CEO VIETGO, người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xúc tiến và kết nối xuất khẩu tại Việt Nam.

- Thưa ông, dưới góc độ của một chuyên gia trực tiếp đồng hành cùng hàng nghìn doanh nghiệp xúc tiến xuất khẩu ra thị trường quốc tế, ông đánh giá đâu là "làn sóng" tác động rõ nét nhất của mạng lưới các FTA (đặc biệt là EVFTA, CPTPP, RCEP) đến cấu trúc và cơ hội xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam thời gian qua? Và liệu doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự nhận thức đầy đủ về những lợi ích mà các FTA này mang lại hay chưa?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Dưới góc độ của một chuyên gia trực tiếp đồng hành cùng hàng nghìn doanh nghiệp xuất khẩu, tôi đánh giá làn sóng tác động rõ rệt nhất từ mạng lưới các FTA  đặc biệt là EVFTA, CPTPP và RCEP, chính là làn sóng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam.

Đặc biệt, bước sang năm 2025, mức vốn FDI đăng ký mới đã tăng trưởng trên 50%, trong khi vốn thực hiện đầu tư hàng năm luôn duy trì mức tăng quanh ngưỡng 10%. Đây là tốc độ tăng trưởng rất mạnh, khẳng định sức hút vượt trội của nền kinh tế Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực.

Về bản chất, khi các cửa ngõ FTA mở ra, các tập đoàn FDI vốn là những công ty toàn cầu có tiềm lực tài chính mạnh, năng lực nhạy bén và giàu kinh nghiệm sẽ lập tức đón đầu và khai thác ngay lập tức những lợi thế đó. Vì vậy, làn sóng tác động từ khối FDI luôn diễn ra nhanh và mạnh mẽ nhất.

Trong khi đó, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) nội địa cần thêm thời gian để "ngấm", để hiểu và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần và đủ. Đặc biệt là lực lượng đến từ các hộ kinh doanh đang phát triển lên thành doanh nghiệp đội ngũ mới bước chân vào thương trường này rất cần thời gian tiếp cận. Do đó, công tác tuyên truyền và định hướng nhận thức cho lực lượng này cần phải được đẩy mạnh hơn nữa, giúp nền kinh tế khai thác trọn vẹn những lợi thế FTA mà Chính phủ đã dày công đàm phán.

Ông Nguyễn Tuấn Việt - CEO VIETGO.

- Các con số thống kê cho thấy tỉ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan từ C/O trong một số FTA của doanh nghiệp Việt vẫn còn dư địa rất lớn. Bằng trải nghiệm thực tế "va chạm" đơn hàng hàng ngày với các đối tác ngoại, ông thấy doanh nghiệp Việt Nam - đặc biệt là khối SME - đang khai thác các FTA này như thế nào? Điểm nghẽn lớn nhất khiến họ "có vàng mà chưa biết cách dùng" nằm ở đâu?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở chính tư duy và nhận thức của các doanh nghiệp SME.

Lấy ví dụ trong ngành dệt may: Khi chào đơn hàng cho đối tác quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ tập trung suy nghĩ làm sao để kéo giá thành xuống thấp nhất. Việc tối ưu chi phí là tốt và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho nền kinh tế, nhưng cách làm này lại chưa đúng khi đặt trong bối cảnh cần tận dụng lợi thế FTA.

Đơn cử, đối với hàng dệt may xuất khẩu sang châu Âu, nếu muốn tận dụng ưu đãi thuế quan từ EVFTA để khách hàng EU được giảm thuế nhập khẩu ở đầu ngõ đến, doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng nguyên phụ liệu xuất xứ nội địa hoặc từ các nước trong khối có cam kết cộng gộp như Hàn Quốc. Tuy nhiên, do thói quen muốn hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp Việt lại thường nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu từ Trung Quốc. Kết quả là khi cộng tổng chi phí, nhà nhập khẩu nước ngoài lại phải trả mức giá đắt hơn do gánh thêm thuế nhập khẩu cao vì vướng quy tắc xuất xứ.

Chính phủ đã rất vất vả đàm phán để mang về các hiệp định, tạo ra những lợi thế, cơ hội tiếp cận các thị trường mới cho doanh nghiệp Việt. Thế nhưng nhiều doanh nghiệp lại đang bỏ phí. Chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn thực chiến để doanh nghiệp nắm rõ và triệt để khai thác những dư địa này.

- Nhiều ý kiến cho rằng các rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh (như cơ chế CBAM, quy định chống mất rừng EUDR...) và quy tắc xuất xứ đang từng ngày siết chặt gây không ít khó khăn. Theo ông, năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt trước các bài kiểm tra khắc nghiệt này hiện ở mức độ nào và họ cần thay đổi tư duy làm hàng ra sao để không bị loại khỏi cuộc chơi?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Chúng ta đang sở hữu mạng lưới FTA bao phủ rộng khắp với hơn 100 quốc gia sẵn sàng cắt giảm thuế quan và rào cản cho hàng hóa Việt Nam. Đứng ở góc độ người bán, chúng ta có quyền chủ động lựa chọn thị trường phù hợp với năng lực của mình, chứ không nhất thiết phải cố lao vào những nơi có hàng rào kỹ thuật quá cao hay tiêu chuẩn khắt khe.

Thực tế thị trường cho thấy, hơn 2/3 dân số thế giới hiện nay không yêu cầu quá cao về các tiêu chuẩn khắt khe này đối với các mặt hàng phi nông sản. Toàn bộ khu vực châu Phi và Trung Đông với gần 1 tỷ dân; Ấn Độ 1,4 tỷ dân; Trung Quốc 1,4 tỷ dân; khu vực Nam Mỹ; toàn bộ thị trường Nga với 300 triệu dân hay khối ASEAN... đều là những không gian thương mại khổng lồ không đòi hỏi tiêu chuẩn quá khắt khe. Trong tổng số 8 tỷ dân toàn cầu, đã có khoảng 3 đến 4 tỷ người thuộc các thị trường "dễ tính".

Do đó, FTA mang lại cho doanh nghiệp thêm nhiều sự lựa chọn chứ không hề trói buộc chúng ta. Nếu doanh nghiệp đủ năng lực vượt qua các hàng rào kỹ thuật thì tự tin tiến vào thị trường khó; nếu chưa đủ điều kiện, chúng ta hoàn toàn có thể tập trung khai thác các thị trường dễ hơn. Thị trường nào mang lại hiệu quả cũng đều tốt. FTA đơn giản là những cánh cửa mở thêm, trao quyền lựa chọn đa dạng cho doanh nghiệp Việt.

- VIETGO đã kết nối thành công rất nhiều đơn hàng xuất khẩu đi khắp thế giới. Từ bài học thành công lẫn thất bại của các doanh nghiệp, ông có thể chia sẻ những giải pháp "thực chiến" nhất để một doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động nhảy vọt, tối ưu hóa lợi thế từ FTA nhằm chuyển từ xuất khẩu thô/gia công sang xuất khẩu chính ngạch có giá trị gia tăng cao?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Giải pháp thực chiến nhất chính là sự thay đổi về tư duy: Hãy chuyển từ việc bán thứ mình có sang bán thứ thị trường đang cần.

Trước nay, các nhà máy hay công ty thương mại thường chỉ tập trung xuất khẩu mặt hàng mà mình sẵn có kinh nghiệm, đã đầu tư tiền bạc, máy móc và công sức. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần mở rộng tư duy bằng cách theo dõi sát các thống kê thị trường để biết thế giới đang "hot" mặt hàng nào. Khi nhu cầu tăng cao, người mua sẵn sàng trả giá tốt và chốt đơn rất nhanh, giúp doanh nghiệp gia tăng biên lợi nhuận và quy mô xuất khẩu.

Khi đã chọn đúng mặt hàng thị trường đang cần, bước tiếp theo là chọn đúng thị trường có FTA với Việt Nam. Việc này tạo ra hiệu ứng kéo rất mạnh: nhà nhập khẩu ở quốc gia đó sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan nên họ sẽ "chăm chăm" tìm mua hàng từ Việt Nam thay vì tìm đến các đối thủ cạnh tranh khác.

Chẳng hạn như thị trường Canada, quốc gia có FTA với Việt Nam. Là một nước xứ lạnh, họ có nhu cầu rất lớn về áo jacket, áo chần bông dày. Vì nhập khẩu từ Việt Nam được giảm thuế, các nhà mua hàng Canada chỉ tập trung đặt đơn tại Việt Nam.

Doanh nghiệp chỉ cần tiếp cận đúng khách hàng, chọn đúng nguồn hàng và bắt trúng xu hướng (trend), quy mô đơn hàng và lợi nhuận sẽ tự động nhảy vọt. Đây là con đường thực chiến nhất thay vì cứ khăng khăng bán sản phẩm theo tư duy lối cũ.

- Để các cam kết FTA không dừng lại ở góc độ chính sách mà thực sự hóa thành các đơn hàng cụ thể trên bàn đàm phán, ông có kiến nghị gì đối với Bộ Công Thương cũng như hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài trong việc đổi mới công tác xúc tiến thương mại và hỗ trợ thông tin thị trường cho doanh nghiệp trong giai đoạn tới?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Thực tế hiện nay, các lợi thế từ FTA đang được tận dụng rất tốt bởi một thế hệ doanh nghiệp mới, những doanh nghiệp thương mại trẻ và nhạy bén.

Nếu phân loại theo góc nhìn của tôi thì thị trường có hai nhóm doanh nghiệp:

Thứ nhất là nhóm doanh nghiệp sản xuất truyền thống: Họ đã gắn bó 20 - 30 năm với dây chuyền máy móc, vùng nguyên liệu và chuỗi cung ứng quen thuộc, nên chỉ tập trung bán cái mình sẵn có và ít nhạy bén với các xu hướng mới của thế giới. Năng lực sản xuất của họ rất tốt nhưng khâu bán hàng lại là điểm yếu do nằm ở các tỉnh xa, khó thu hút nhân sự giỏi ngoại ngữ hay kỹ năng thương mại. Họ đóng vai trò như "lực lượng công nhân" của nền kinh tế.

Thứ hai là nhóm doanh nghiệp thương mại thế hệ mới: Đây là các doanh nghiệp nhỏ, đôi khi chỉ có 1 - 2 nhân sự nhưng được đào tạo bài bản về kỹ năng. Cách tiếp cận của họ hoàn toàn ngược lại: Học kiến thức, tìm kiếm khách hàng, nắm bắt nhu cầu thị trường và bài toán FTA trước, rồi mới đi tìm nhà máy sản xuất trong nước để thu mua và xuất khẩu. Đây chính là "đội ngũ bán hàng" thực thụ của nền kinh tế.

Nếu chúng ta không tập trung khuyến khích và phát triển lực lượng doanh nghiệp thương mại nội địa này, các doanh nghiệp thương mại từ Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông hay Đài Loan (Trung Quốc) sẽ sang Việt Nam thu mua hàng rồi xuất khẩu đi. Khi đó, chúng ta đánh mất phần lớn lợi nhuận ngay trên sân nhà. Doanh nghiệp sản xuất cứ ngỡ bán cho người Singapore là xuất khẩu, nhưng thực chất đối tác Singapore mới là bên trực tiếp đứng ra tận dụng FTA để bán cho khách hàng cuối ở châu Âu và hưởng trọn phần lợi nhuận lớn nhất.

Khi đội ngũ thương mại này trưởng thành, họ thậm chí còn có thể sang các nước lân cận mua hàng để xuất đi khắp thế giới, giúp Việt Nam gia tăng kim ngạch mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào hàng hóa trong nước.

Trở lại câu chuyện chính sách, tôi kiến nghị Bộ Công Thương, Chính phủ cùng các đơn vị đồng hành cần có giải pháp tuyên truyền, thúc đẩy và hỗ trợ mạnh mẽ cho lực lượng doanh nghiệp thương mại. Hãy xây dựng và nâng cao năng lực cho "đội ngũ bán hàng" của nền kinh tế, bởi có bán hàng giỏi thì chúng ta mới tối ưu hóa được giá trị từ các FTA.

- Xin cảm ơn ông!

Nhóm PV