Đóng

Siết trách nhiệm doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh đồ uống

Bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh rượu và nước giải khát là trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng.

Trách nhiệm không chỉ ở khâu sản xuất

Rượu và nước giải khát là những mặt hàng được tiêu thụ phổ biến, gắn trực tiếp với sức khỏe người sử dụng. Tuy nhiên, nguy cơ từ sản phẩm không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng kém chất lượng đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối.

Trong đó, trách nhiệm của doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc kiểm soát chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường mà còn bao gồm minh bạch thông tin, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc, chủ động thu hồi sản phẩm không an toàn và khắc phục hậu quả khi xảy ra vi phạm. Đây cũng là những yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, củng cố niềm tin đối với doanh nghiệp.

Để làm rõ trách nhiệm pháp lý của các cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm an toàn thực phẩm trong lĩnh vực đồ uống, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật.

Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật.

- Thưa luật sư, rượu và nước giải khát là những sản phẩm được tiêu thụ phổ biến, có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng. Dưới góc độ pháp lý, luật sư đánh giá như thế nào về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm, từ kiểm soát nguyên liệu, quy trình sản xuất đến chất lượng sản phẩm khi đưa ra thị trường?

Luật sư Diệp Năng Bình: Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh, chứ không chỉ ở khâu kiểm tra thành phẩm trước khi đưa ra thị trường. Khoản 2 Điều 7 Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định tổ chức, cá nhân sản xuất thực phẩm phải bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất, thiết lập quy trình tự kiểm tra, lưu giữ hồ sơ truy xuất nguồn gốc và kịp thời ngừng sản xuất, thu hồi, xử lý khi phát hiện sản phẩm không an toàn. Đối với khâu kinh doanh, khoản 2 Điều 8 luật này yêu cầu kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ, lưu giữ hồ sơ và ngừng kinh doanh khi phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Cụ thể, doanh nghiệp phải kiểm soát nguồn gốc, chất lượng nguyên liệu; duy trì điều kiện vệ sinh, trang thiết bị và quy trình sản xuất; đồng thời bảo đảm sản phẩm đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng và cung cấp thông tin trung thực cho người tiêu dùng. Nếu sản phẩm không an toàn gây thiệt hại, doanh nghiệp có thể phải bồi thường theo quy định, tùy vai trò sản xuất hay kinh doanh. Đối với rượu và nước giải khát, trách nhiệm này càng cần được thực hiện nghiêm túc vì sai phạm có thể trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng.

- Thực tế cho thấy, tình trạng rượu không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng kém chất lượng và những sản phẩm đồ uống không bảo đảm an toàn thực phẩm vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo luật sư, khi sản phẩm vi phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm pháp lý của cơ sở sản xuất, đơn vị phân phối và tổ chức, cá nhân kinh doanh được xác định như thế nào? 

Luật sư Diệp Năng Bình: Khi rượu, nước giải khát vi phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm pháp lý phải được xác định theo hành vi, hậu quả và vai trò của từng chủ thể. Cơ sở sản xuất chịu trách nhiệm về nguyên liệu, quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm; đơn vị phân phối, kinh doanh phải kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ, lưu giữ hồ sơ và ngừng kinh doanh khi phát hiện sản phẩm không bảo đảm an toàn. 

Về mức xử phạt, Điều 4 Nghị định 115/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP, quy định hành vi sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất thực phẩm bị phạt từ 01 đến 02 lần giá trị sản phẩm vi phạm; sử dụng nguyên liệu là chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng. Đối với kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, theo Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP, thì có thể bị phạt từ 300.000 đến 50.000.000 đồng tùy vào mức độ của hành vi. Mức phạt đối với tổ chức được áp dụng theo quy định về mức phạt dành cho tổ chức tại từng nghị định.

Nếu rượu, nước giải khát là hàng giả, người sản xuất hoặc buôn bán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 193 Bộ luật Hình sự về “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”; khung hình phạt cơ bản là 02–05 năm tù, khung hình phạt tăng nặng có thể lên đến chung thân tùy tình tiết và hậu quả. Trường hợp vi phạm quy định về an toàn thực phẩm gây hậu quả và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, còn phải xem xét Điều 317 Bộ luật Hình sự về “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm”. Bên cạnh chế tài hành chính hoặc hình sự, chủ thể gây thiệt hại còn có thể phải bồi thường theo quy định pháp luật.

Trong quá trình xử lý, cần phân biệt rõ hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và thực phẩm không bảo đảm an toàn, bởi đây là những hành vi có căn cứ xử lý khác nhau. Việc xác định trách nhiệm phải dựa trên hồ sơ truy xuất nguồn gốc, kết quả kiểm nghiệm, giá trị hàng hóa, chứng cứ về hành vi và mối quan hệ nhân quả với thiệt hại. Đồng thời, cần kịp thời ngừng lưu thông, thu hồi sản phẩm không an toàn, thông báo nguy cơ cho người tiêu dùng và xử lý trách nhiệm bồi thường khi có căn cứ; không thể chỉ xử phạt hành chính mà bỏ qua việc khắc phục hậu quả sức khỏe và quyền lợi của người bị thiệt hại.

Minh bạch nguồn gốc, siết trách nhiệm doanh nghiệp

- Minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu quan trọng trong quản lý chất lượng hàng hóa, đặc biệt đối với ngành đồ uống. Theo luật sư, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh rượu và nước giải khát cần thực hiện những trách nhiệm gì để củng cố niềm tin của người tiêu dùng?

Luật sư Diệp Năng Bình: Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh rượu và nước giải khát có trách nhiệm minh bạch thông tin, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc và kịp thời xử lý sản phẩm không an toàn. Cụ thể, khoản 2 Điều 7 và khoản 2 Điều 8 Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh trong việc cung cấp thông tin trung thực, kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ và lưu giữ hồ sơ liên quan đến thực phẩm. Về công bố sản phẩm, thực hiện theo Điều 4 và Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP; Nghị định này tiếp tục được áp dụng theo Điều 2 Nghị quyết 15/2026/NQ-CP.

Minh bạch nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Về ghi nhãn, khoản 1 Điều 42 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam phải thể hiện bằng tiếng Việt các nội dung bắt buộc, gồm tên hàng hóa; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; xuất xứ hàng hóa và các nội dung khác theo tính chất sản phẩm. Đối với thực phẩm, các nội dung cụ thể được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này, bao gồm định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần, thông tin cảnh báo, hướng dẫn sử dụng và bảo quản.

Khi phát hiện sản phẩm không bảo đảm an toàn, doanh nghiệp phải thực hiện truy xuất nguồn gốc theo khoản 2 Điều 54 Luật An toàn thực phẩm 2010: xác định và thông báo lô sản phẩm vi phạm, yêu cầu đại lý báo cáo số lượng hàng tồn và hàng đang lưu thông, đồng thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền về kế hoạch thu hồi và biện pháp xử lý. Theo khoản 4 Điều 55 Luật này, doanh nghiệp phải công bố thông tin về sản phẩm bị thu hồi, chịu trách nhiệm thu hồi, xử lý trong thời hạn quy định và thanh toán toàn bộ chi phí liên quan. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ này là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ người tiêu dùng và duy trì niềm tin vào sản phẩm.

Theo tôi, để bảo đảm an toàn thực phẩm bền vững, trước hết cần chuyển từ tư duy tuân thủ mang tính đối phó sang chủ động kiểm soát rủi ro trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh rượu và nước giải khát phải kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu, quy trình sản xuất, điều kiện bảo quản; kiểm nghiệm chất lượng theo yêu cầu; lưu giữ hồ sơ để truy xuất nguồn gốc và kịp thời thu hồi sản phẩm khi phát hiện nguy cơ mất an toàn. Người đứng đầu doanh nghiệp cần chịu trách nhiệm thực chất về việc tuân thủ, thay vì chỉ giao nhiệm vụ cho bộ phận kiểm soát chất lượng hoặc coi giấy phép, hồ sơ công bố là điều kiện đủ để bảo đảm an toàn.

Về phía cơ quan quản lý, cần tăng cường kiểm tra dựa trên mức độ rủi ro, tập trung vào cơ sở có dấu hiệu vi phạm, sản phẩm có nguy cơ cao và hoạt động kinh doanh trên môi trường trực tuyến. Đồng thời phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan để tránh bỏ lọt vi phạm. Việc kiểm tra phải đi cùng xử lý nghiêm, công khai thông tin vi phạm theo quy định và giám sát việc khắc phục hậu quả. Người tiêu dùng cũng cần được tiếp cận thông tin rõ ràng về thành phần, nguồn gốc, hạn sử dụng và cảnh báo an toàn, đồng thời có kênh thuận tiện để phản ánh, khiếu nại và yêu cầu bồi thường khi quyền lợi bị xâm phạm.

Xin cảm ơn luật sư!

Luật sư Diệp Năng Bình: Bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh rượu và nước giải khát phải trở thành trách nhiệm thường xuyên của doanh nghiệp. Kiểm soát chất lượng, minh bạch thông tin và kịp thời xử lý sản phẩm không an toàn không chỉ góp phần bảo vệ sức khỏe, quyền lợi người tiêu dùng mà còn là nền tảng xây dựng uy tín, củng cố niềm tin trên thị trường.

Hoàng Thanh