Làm chủ công nghệ - yêu cầu chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng
Theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực đột phá để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược. Tiếp đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, trong khi Luật Điện lực năm 2024 yêu cầu tăng cường nội địa hóa các hạng mục thiết yếu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng.
Bên cạnh đó, các quy định về an toàn thông tin cũng đặt yêu cầu hạ tầng điều độ điện quốc gia phải đáp ứng cấp độ bảo mật cao nhất. Điều này cho thấy việc làm chủ các công nghệ giám sát, điều khiển và phân tích vận hành hệ thống điện không chỉ là yêu cầu về công nghệ mà còn là nhiệm vụ chiến lược gắn với bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Trong bối cảnh hệ thống điện ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, tích hợp quy mô lớn các nguồn năng lượng tái tạo và vận hành trên nền tảng số, yêu cầu về những giải pháp công nghệ có khả năng giám sát, phân tích và hỗ trợ điều độ theo thời gian thực trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Việc chủ động nghiên cứu, phát triển các sản phẩm công nghệ trong nước không chỉ giúp nâng cao tính tự chủ về kỹ thuật, giảm phụ thuộc vào các giải pháp nhập khẩu mà còn góp phần bảo đảm an toàn, an ninh cho hạ tầng năng lượng trọng yếu. Đây cũng là bước đi phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển các sản phẩm công nghệ "Made in Vietnam", đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào quá trình làm chủ các công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển bền vững ngành năng lượng.
Hệ thống điện Việt Nam: áp lực và khoảng trống giám sát ổn định
Theo thống kê mới đây, hệ thống điện Việt Nam đang vận hành trong bối cảnh nhu cầu phụ tải tăng nhanh và áp lực truyền tải ngày càng lớn. Chỉ riêng ngày 27/5/2026, công suất phụ tải đạt mức kỷ lục 58.103 MW, trong đó miền Bắc tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, các sự cố mất ổn định của hệ thống điện có thể diễn ra chỉ trong vài giây, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các công cụ giám sát, cảnh báo và hỗ trợ điều độ theo thời gian thực.
Trước đó, tổng công suất đặt cuối 2025 đạt 87,6 GW (đứng thứ 22 thế giới), trong đó loại nguồn IBR – Inverter-based Resources (điện gió, điện mặt trời) chiếm 27,4%. Đến 2030, tổng công suất lên 183.291–236.363 MW với nguồn IBR chiếm 39,5 - 47,2% – năm năm tới ngành điện phải xây dựng khối lượng tương đương 50 năm qua. Đặc biệt, loại nguồn IBR không đóng góp quán tính, làm hệ thống “nhẹ và nhanh” – có thể mất ổn định chỉ trong vài giây.
Khoảng trống cốt lõi: giới hạn ổn định động thay đổi theo từng phút, nhưng các hệ thống SCADA/EMS/WAMS hiện hữu chỉ giám sát thụ động ghi nhận sự cố sau khi xảy ra mà không thể dự báo, cảnh báo sớm. Hệ quả: trước mọi sự cố lớn điều độ viên gần như không nhận được cảnh báo nào tại Việt Nam (Vũng Áng 2015, suy giảm điện áp miền Bắc 7/2022, Vĩnh Tân -Tân Uyên 4/2025 sa thải 3.695 MW) hay trên thế giới (hệ thống điện Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha xảy ra sự cố mất ổn định diện rộng trong 27 giây ngày 28/4/2025, Nam Úc năm 2016).
Sơ đồ truyền tải liên miền 500 kV và thách thức ổn định khi truyền tải 4.000–5.000 MW từ Nam/Trung ra Bắc – ứng dụng Online DSA và WAMPAC có thể giúp EVN tiết kiệm hàng trăm triệu USD đầu tư hạ tầng.
Công ty ATS – gần 30 năm đồng hành cùng ngành điện đã phát triển thành công SmartDSA™, làm chủ hoàn toàn từ thiết kế kiến trúc, thuật toán đến triển khai. SmartDSA™ kết nối seamless với bất kỳ SCADA/EMS nào qua IEC 60870-5-104, IEEE C37.118, FTP, ICCP/TASE2, tự động tạo ra cơ sở dữ liệu chuẩn hóa qua Advanced Data Conversion Engine. SmartDSA™ tạo ra bản sao số (Digital Twin) toàn bộ hệ thống điện, tích hợp logic bảo vệ SPS/RAS, tự động cập nhật mỗi 5 phút.
TSA (Transient Stability Assessment): Phân tích ổn định động dưới các kịch bản N-1, N-2, ngắn mạch bằng khả năng tính toán song song (Parallel Computing).
VSA (Voltage Stability Assessment): Xác định điểm sụp đổ điện áp và biên an ninh theo đường đặc tính P–V cho các giao diện 500 kV liên miền.
SSR (Sub-synchronous Resonance Assessment): Nhận diện cộng hưởng dưới đồng bộ bằng phương pháp quét tần số (Frequency Scanning).
OSL (Oscillation Source Location): Xác định nguồn dao động công suất qua thuật toán dòng năng lượng tiêu tán (Dissipating Energy Flow – DEF) sử dụng dữ liệu từ PMU, kiểm chứng theo yêu cầu Transgrid (ÚC).
Inertia & RoCoF: Giám sát quán tính và tốc độ thay đổi tần số, vượt trội phương pháp mã nguồn mở của NREL (Hoa Kỳ).
SmartDSA™ được kiểm thử trên lưới WECC 240-bus (291 GW nguồn với 59 GW IBR) và các mô-đun được trình bày tại CIGRE Australia 2024- 2025 [7-10] và CIGRE Paris Session 8/2026 [11] – ở một lĩnh vực mà nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới cũng chưa phát triển được sản phẩm tương tự.
Giao diện vận hành SmartDSA™: biểu đồ radar giám sát tổng quan an ninh HTĐ, biểu đồ cột xác định biên an ninh từng giao diện và các đồ thị phân tích TSA/SSR thời gian thực.
Góp phần tối ưu hạ tầng truyền tải hiện có
Theo đánh giá của Cục Điện lực (Bộ Công Thương) tại cuộc họp ngày 28/7/2025, việc tính toán giới hạn truyền tải theo thời gian thực với chu kỳ cập nhật 5 phút có thể giúp điều chỉnh linh hoạt công suất truyền tải liên miền, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng khả năng cung cấp điện cho miền Bắc trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Trong khi dự án đường dây 500 kV mạch 3 Quảng Trạch - Phố Nối giúp tăng thêm khoảng 2.500 MW năng lực truyền tải, SmartDSA™ được đánh giá có khả năng hỗ trợ khai thác thêm khoảng 500-700 MW công suất trên hạ tầng hiện hữu, qua đó góp phần giảm nhu cầu đầu tư mở rộng lưới điện trong ngắn hạn, tiết kiệm hàng trăm triệu USD đầu tư hạ tầng.
Tại cuộc họp ngày 28/7/2025, Cục Điện lực đã giao đơn vị vận hành hệ thống điện quốc gia phối hợp với ATS triển khai thử nghiệm SmartDSA™ tại Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia. Theo kế hoạch do ATS đề xuất, quá trình triển khai được thực hiện trong 7 bước, hoàn thành trong 7 tuần, bảo đảm an toàn thông tin và không ảnh hưởng đến việc cung cấp điện. Có thể nhìn nhận, SmartDSA™ – sản phẩm của người Việt Nam, đang cạnh tranh ngang tầm với những tập đoàn công nghệ như ABB, Siemens, Schneider ngay trên những lĩnh vực kỹ thuật cao nhất của ngành điện – chính là hiện thân của tinh thần tự chủ công nghệ mà Nghị quyết 57 đề ra.
Với việc được nghiên cứu và phát triển trong nước, SmartDSA™ được kỳ vọng góp phần hiện thực hóa chủ trương làm chủ công nghệ trong lĩnh vực năng lượng, từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và tăng cường bảo đảm an ninh hệ thống điện quốc gia.