Đóng

Tận dụng VIFTA để hàng Việt tiến sâu thị trường Trung Đông 

Hiệp định VIFTA mang lại ưu đãi thuế quan lớn, tạo bước đệm quan trọng để hàng Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh và vươn xa hơn tại thị trường Trung Đông

Sau hơn 2 năm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) có hiệu lực, những ưu đãi thuế quan đang mở thêm cơ hội cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường Israel và rộng hơn là khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, để biến cam kết thành năng lực cạnh tranh thực tế, doanh nghiệp cần đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn đặc thù và xây dựng chuỗi phân phối phù hợp. Báo Công Thương trao đổi với PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia thương mại quốc tế, Giảng viên cao cấp tại Đại học Kinh tế quốc dân, về những dư địa và giải pháp tận dụng VIFTA trong thời gian tới.

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia thương mại quốc tế, Giảng viên cao cấp tại Đại học Kinh tế quốc dân. Ảnh: Lê An

VIFTA tạo bước đệm để hàng Việt mở rộng sang Trung Đông 

-Thưa ông, Việt Nam là nước đầu tiên tại Đông Nam Á ký FTA với Israel, giúp hàng hóa Việt sang quốc gia Tây Á này được giảm đến 92% dòng thuế. Ông đánh giá đâu là động lực thực chất nhất để hai nước nhanh chóng đạt và vượt mục tiêu kim ngạch song phương trong giai đoạn tới, đặc biệt đối với các nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam?

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Theo góc nhìn của tôi, Israel là một trong những thị trường nằm gần trung tâm của khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Đây cũng là một thị trường có thu nhập rất cao. GDP của Israel còn cao hơn Việt Nam, trong khi thu nhập bình quân đầu người của Israel cao hơn Việt Nam khoảng 10-11 lần.

Nếu nhìn về tiềm năng, sức mua của Israel rất lớn. Khi có hiệp định và thuế quan được cắt giảm, quy mô thương mại sẽ có điều kiện gia tăng. Đặc biệt, với một quy mô kinh tế như vậy, tốc độ phát triển mạnh của Israel và vị thế ngày càng lớn của nước này trong khu vực, khả năng mở rộng quan hệ giữa Israel với các nước, trong đó có Việt Nam, còn rất lớn.

Tôi cho rằng Israel cũng có nhu cầu mở rộng ảnh hưởng và quan hệ kinh tế. Do đó, VIFTA là một bước tiếp sóng rất tốt với quá trình mở rộng quan hệ của Israel, đồng thời thúc đẩy thương mại của Việt Nam. Vì vậy, thương mại hai chiều có nhiều cơ sở để tăng lên.

Đối với Việt Nam, những mặt hàng có thế mạnh như dệt may, thuỷ sản và nông sản có thể tìm được thị trường tại Israel nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn của nước này.

Một điểm quan trọng khác là Việt Nam có thể tìm kiếm các nhà phân phối tại Israel, qua đó mở rộng chuỗi giá trị của hàng hóa Việt Nam.

Thứ ba, chúng ta có thể tận dụng hiệp định để tiếp nhận công nghệ cao của Israel, đặc biệt trong nông nghiệp, AI và các ngành công nghiệp thông minh. Israel có thế mạnh về nhiều lĩnh vực công nghệ cao, trong đó có công nghiệp năng lượng, công nghiệp bán dẫn và công nghệ nông nghiệp. Những yếu tố đó cho thấy VIFTA không chỉ tạo điều kiện để Việt Nam thâm nhập thị trường mà còn mở ra khả năng tiếp cận công nghệ, tiếp cận các nhà đầu tư Israel trong tương lai.

Vì vậy, có thể hình thành dòng đầu tư từ Israel vào Việt Nam để sản xuất, sau đó xuất khẩu sang Israel và các nước Trung Đông. Nói cách khác, quan hệ với Israel và VIFTA có thể trở thành bước đệm để Việt Nam lan tỏa sang cả khu vực Trung Đông và Bắc Phi. 

VIFTA có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị 

- VIFTA sẽ có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh các căng thẳng địa chính trị diễn ra tại Trung Đông cũng như vấn đề thuế quan ở một số nước lớn đang áp với Việt Nam? Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của các hiệp định thương mại tự do với những đối tác này?

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, có hai ý. Thứ nhất là về căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông. Tôi cho rằng hiệp định này có tác động ở chỗ tạo điều kiện cho chuỗi hàng hóa Việt Nam. Khả năng đứt gãy là khó tránh khỏi, nhưng nếu chúng ta tìm được phương pháp đi một cách ổn định thì Việt Nam có thể trở thành một nguồn cung hàng hóa cho Trung Đông trong điều kiện khu vực này cũng đang gặp nhiều khó khăn.

Khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy ở nhiều nước, hàng Việt Nam nếu có thể lọt vào được thì nhiều khi đây lại là cơ hội. Đó là điểm thứ nhất.

Như đã đề cập, với VIFTA, Việt Nam lại có mức giảm thuế lên đến 92%. Các đối tác của Israel và Việt Nam sẽ có thêm động lực tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam bởi hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế.

Như vậy, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam được nâng lên. Lúc này, chúng ta phải thấy rằng cơ hội nhiều hơn, mặc dù thách thức vẫn còn. Đây là lúc Việt Nam nên tăng cường đẩy mạnh và tận dụng triệt để cơ hội từ hiệp định.

Sản phẩm nông sản được nhận định là thế mạnh của Việt Nam đối với thị trường Israel. Ảnh: Lê An

Chính sách hỗ trợ cần hướng mạnh vào xúc tiến và kết nối thị trường

-Nhìn từ góc độ nghiên cứu chính sách, theo ông, Bộ Công Thương cũng như các cơ quan quản lý cần có những chương trình hành động hoặc giải pháp hỗ trợ trọng tâm nào để cộng đồng doanh nghiệp khai thác trọn vẹn dư địa mà VIFTA mang lại?

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng: Dư địa của hiệp định này sẽ rất lớn. Thị trường Israel nói riêng và Trung Đông nói chung là thị trường của những nước dầu mỏ, giàu có. Chắc chắn hàng hóa phải có chất lượng cao.

Do tiềm năng khai thác vẫn còn nhiều dư địa, đây là một cơ hội tốt để hàng Việt Nam có thể thâm nhập mạnh hơn vào thị trường này.

Bộ Công Thương, với tư cách cơ quan quản lý nhà nước, ngoài việc hoạch định chiến lược, chính sách và tư vấn, cần triển khai các chương trình xúc tiến thương mại ở nước ngoài, tổ chức hội chợ, kết nối đối tác và xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường với doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục kết nối Đại sứ quán Việt Nam tại khu vực, đồng thời phát huy vai trò của Thương vụ. Thương vụ là nơi cung cấp thông tin đầy đủ về danh sách đối tác, mặt hàng họ cần, dung lượng thị trường, xu hướng, tiêu chuẩn Halal, Kosher cũng như tập quán và thói quen sử dụng hàng hóa.

Có những nhóm sản phẩm độc đáo mà thị trường khu vực có nhu cầu lớn. Chẳng hạn, có những vùng sử dụng trầm hương và những sản phẩm này có giá trị rất cao. Những mặt hàng độc đáo như vậy cần được tìm hiểu để có thể đầu tư sản xuất trong nước và bán sang thị trường khu vực.

Ngoài ra, tôi nghĩ cần phát huy vai trò của các đơn vị nghiên cứu và phát triển sản phẩm giữa hai nước, để doanh nghiệp giao lưu nhiều hơn, biết thị trường cần gì và lựa chọn đối tác nào.

Cần tăng cường lực lượng kết nối của Việt Nam tại khu vực này. Ví dụ như cộng đồng người Việt, học sinh đi học, người lao động Việt Nam tại khu vực. Chúng ta có thể sử dụng mạng lưới này để thu thập thông tin thương mại, tiếp cận từng đối tác một.

Ngay cả khi đối tác chưa có nhu cầu về hàng Việt Nam, doanh nghiệp vẫn phải đến tận nơi, giới thiệu và thuyết minh về sản phẩm.

-Trân trọng cảm ơn ông!

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam – Israel ước đạt khoảng 1,93 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, xuất khẩu của Việt Nam sang Israel đạt khoảng 555 triệu USD, tăng 35,7%. Với đà tăng trưởng hiện tại, kim ngạch thương mại hai chiều trong cả năm 2026 được dự báo có thể tiến sát mốc 4 tỷ USD.

Lê An (thực hiện)