Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) đã phân tích ý nghĩa chiến lược của việc phát triển các công nghệ chiến lược, đồng thời chia sẻ những thế mạnh của Viện Nghiên cứu Cơ khí và đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy lĩnh vực này phát triển hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại
- Từ góc độ một đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ, xin ông cho biết, việc phát triển công nghệ chiến lược sẽ tác động ra sao đến mục tiêu xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại, có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng cao của Việt Nam?
TS. Vũ Văn Khoa: Từ góc độ một đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ, chúng tôi cho rằng phát triển công nghệ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại và có giá trị gia tăng cao của Việt Nam.
TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí. Ảnh: Quốc Chuyển
Trước hết, làm chủ các công nghệ chiến lược sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, từng bước nâng cao năng lực tự chủ trong thiết kế, chế tạo và vận hành các hệ thống công nghiệp trọng điểm. Đây là yếu tố nền tảng để bảo đảm an ninh kinh tế, nâng cao khả năng chống chịu của nền sản xuất trước những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, công nghệ chiến lược chính là động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và năng suất. Thay vì chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, chúng ta có cơ hội tiến lên các khâu thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và sở hữu tài sản trí tuệ.
Đối với ngành Công Thương, những lĩnh vực như sản xuất thông minh, robot công nghiệp, năng lượng sạch và vật liệu mới, thiết bị điện gió ngoài khơi, công nghệ đường sắt hiện đại, chế biến sâu khoáng sản, hay các hệ thống thử nghiệm và kiểm chuẩn tiên tiến đều là những công nghệ chiến lược có khả năng tạo ra đột phá về năng suất và giá trị gia tăng.
Đặc biệt, quá trình phát triển công nghệ chiến lược sẽ tạo ra nhu cầu lớn về nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong nước kết nối chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành năng lực công nghệ quốc gia, tạo ra các sản phẩm, giải pháp và sáng chế mang thương hiệu Việt Nam.
Theo chúng tôi, trong giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ "ứng dụng công nghệ" sang "làm chủ công nghệ". Viện nghiên cứu phải trở thành cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất, tham gia trực tiếp vào quá trình thiết kế, thử nghiệm, kiểm định và hoàn thiện công nghệ cho doanh nghiệp. Chỉ khi công nghệ được thương mại hóa thành sản phẩm, thiết bị và dây chuyền sản xuất cụ thể thì mới thực sự tạo ra năng lực tự chủ và giá trị gia tăng cho nền công nghiệp quốc gia.
Có thể khẳng định rằng, phát triển công nghệ chiến lược không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mà còn là giải pháp mang tính lâu dài để Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại, có hàm lượng khoa học công nghệ cao và phát triển bền vững trong kỷ nguyên kinh tế số.
- Theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, danh mục công nghệ chiến lược gồm 10 nhóm công nghệ chiến lược. Trong đó, có công nghệ số; công nghệ robot và tự động hóa; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến… Ông có thể chia sẻ thế mạnh nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cơ khí trong các lĩnh vực này?
TS. Vũ Văn Khoa: Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã xác định rất đúng những công nghệ có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ của đất nước. Đây cũng là những lĩnh vực mà Viện chúng tôi đã và đang tập trung đầu tư nghiên cứu trong nhiều năm qua.
NARIME đã làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và tích hợp các dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn cho nhiều dòng ô tô điện.
Cụ thể, trong lĩnh vực công nghệ số, robot và tự động hóa, những năm gần đây Viện đã tập trung nghiên cứu, phát triển các giải pháp sản xuất thông minh theo định hướng công nghiệp 4.0. Nhiều hệ thống dây chuyền tự động, kho thông minh và giải pháp logistics thông minh do Viện thiết kế, chế tạo đã được đưa vào vận hành thực tế tại doanh nghiệp.
Điển hình, Viện đã thiết kế, chế tạo, đưa vào vận hành thành công hệ thống phân loại sản phẩm tự động tại doanh nghiệp logistics với năng suất đạt khoảng 60.000 sản phẩm mỗi ngày và có thể nâng lên tới 70.000 sản phẩm/ngày khi khai thác tối đa công suất. Đây là minh chứng cho năng lực làm chủ các công nghệ tự động hóa, điều khiển và tích hợp hệ thống của đội ngũ kỹ sư trong nước.
Đối với lĩnh vực cơ khí chế tạo phục vụ ngành công nghiệp ô tô, NARIME đã làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và tích hợp các dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn cho nhiều dòng ô tô điện của VinFast. Đây là những hạng mục trước đây chủ yếu do các nhà thầu nước ngoài đảm nhiệm, nhưng hiện nay đã được các kỹ sư Việt Nam nghiên cứu, thiết kế và triển khai thành công.
Trong lĩnh vực công nghệ năng lượng tiên tiến, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã thực hiện “Thiết kế, cung cấp lắp đặt và thử nghiệm hệ thống phao và neo” với công suất 47,5MWp cho dự án nhà máy điện mặt trời Đa Mi.
Tiếp nối thành công của dự án Nhà máy điện mặt trời Đa Mi, NARIME đã thiết kế, cung cấp lắp đặt hệ thống neo và phụ kiện cho các nhà máy điện mặt trời trên hồ Tầm Bó và hồ Gia Hoét. Ngoài ra, Viện đã triển khai đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất nhiệm vụ và giải pháp phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo cho các khu vực ven biển, hải đảo Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Những kết quả này cho thấy NARIME không chỉ nằm ở nghiên cứu, mà còn ở khả năng kết nối từ nghiên cứu - thử nghiệm - kiểm chuẩn - chuyển giao và thương mại hóa công nghệ then chốt cho doanh nghiệp, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển các công nghệ chiến lược và xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại của Việt Nam.
Thước đo thành công của công nghệ chiến lược
- Trong quá trình triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đặc biệt là nghiên cứu, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, các đơn vị nghiên cứu hiện đang gặp những khó khăn nào và mong muốn lớn nhất hiện nay là gì, thưa ông?
TS. Vũ Văn Khoa: Do đặc thù của hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian dài và có độ phức tạp cao, nên vẫn còn một số thách thức cần tiếp tục được tháo gỡ. Chẳng hạn, chúng ta vẫn còn thiếu các hạ tầng nghiên cứu và thử nghiệm quy mô lớn.
Đối với nhiều lĩnh vực như robot công nghiệp, thiết bị năng lượng, điện gió ngoài khơi, công nghệ đường sắt hay vật liệu mới, việc làm chủ công nghệ đòi hỏi phải có các trung tâm thử nghiệm, kiểm định và đánh giá đạt chuẩn quốc tế. Đây là những hạ tầng có chi phí đầu tư rất lớn, vượt quá khả năng của một viện nghiên cứu hoặc doanh nghiệp đơn lẻ.
Bên cạnh đó, sự liên kết giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường dù đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đủ mạnh. Nhiều kết quả nghiên cứu có tiềm năng nhưng chưa tìm được cơ hội ứng dụng do thiếu các cơ chế đặt hàng, thiếu các dự án quy mô lớn để thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ trong điều kiện thực tế.
Trong quá trình triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đặc biệt là các nhiệm vụ liên quan đến công nghệ chiến lược, chúng tôi nhận thấy khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở ý tưởng hay năng lực nghiên cứu, mà nằm ở việc chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và năng lực sản xuất quy mô công nghiệp.
Một vấn đề khác là việc phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Đây là nguồn lực quyết định khả năng làm chủ và phát triển công nghệ của quốc gia, do đó cần có các cơ chế đủ mạnh để thu hút, đào tạo và giữ chân các nhà khoa học, chuyên gia giỏi tham gia vào các chương trình nghiên cứu trọng điểm.
Điều các viện nghiên cứu mong muốn nhất không chỉ là thêm nguồn lực cho nghiên cứu, mà là một cơ chế đủ mạnh để kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp và thị trường. Khi công nghệ được ứng dụng vào sản xuất và tạo ra giá trị kinh tế, đó mới là thước đo thành công của các công nghệ chiến lược.
Chúng tôi tin rằng, nếu giải quyết tốt ba vấn đề cốt lõi là cơ chế - hạ tầng - thị trường, Việt Nam hoàn toàn có khả năng hình thành các năng lực công nghệ chiến lược mang thương hiệu Việt Nam, góp phần xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại và có sức cạnh tranh quốc tế.
- Để phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực cơ khí, theo ông cần có những cơ chế, chính sách nào nhằm tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, cũng như thu hút nguồn lực cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo?
TS. Vũ Văn Khoa: Để phát triển các công nghệ chiến lược trong lĩnh vực cơ khí, theo tôi cần chuyển từ tư duy hỗ trợ từng dự án riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là lực lượng tạo ra tri thức và công nghệ, còn Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và dẫn dắt thị trường.
Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường các chương trình nghiên cứu theo cơ chế đặt hàng từ doanh nghiệp và từ các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia. Điều này giúp các nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường, đồng thời tạo đầu ra rõ ràng cho các sản phẩm khoa học và công nghệ.
Đối với nguồn lực cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng, thuế và đầu tư để khuyến khích doanh nghiệp tăng chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Đồng thời, cần thúc đẩy hình thành các quỹ đầu tư cho đổi mới sáng tạo, các trung tâm nghiên cứu dùng chung, các phòng thí nghiệm trọng điểm và cơ sở thử nghiệm hiện đại nhằm hỗ trợ quá trình phát triển công nghệ chiến lược.
Bên cạnh nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yếu tố then chốt. Do đó, cần có cơ chế đặc thù để thu hút, đào tạo và sử dụng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; đồng thời tạo điều kiện để cán bộ nghiên cứu tại các viện, trường và doanh nghiệp có thể luân chuyển, hợp tác nghiên cứu và chia sẻ nguồn lực một cách linh hoạt hơn.
Mặt khác, cần đặc biệt quan tâm đến thị trường cho sản phẩm công nghệ trong nước. Nếu doanh nghiệp nghiên cứu thành công nhưng không có cơ hội tham gia các dự án lớn hoặc không có thị trường ban đầu thì rất khó hình thành các doanh nghiệp công nghệ mạnh. Vì vậy, cơ chế mua sắm công, các chương trình nội địa hóa và các dự án trọng điểm quốc gia cần đóng vai trò là "khách hàng đầu tiên" cho các công nghệ và sản phẩm mới do Việt Nam phát triển.
Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế liên kết thực chất và bền vững giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Mỗi chủ thể đều có thế mạnh riêng: Viện nghiên cứu có năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ, trường đại học có nguồn nhân lực chất lượng cao, còn doanh nghiệp là nơi tiếp nhận, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Theo tôi, liên kết viện - trường - doanh nghiệp chỉ thực sự bền vững khi ba bên cùng chia sẻ lợi ích và cùng hướng tới một sản phẩm cụ thể. Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp, nhưng có thể tạo ra cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho đổi mới sáng tạo; còn viện nghiên cứu và trường đại học phải trở thành nguồn cung công nghệ và nhân lực chất lượng cao cho quá trình đó. Khi hình thành được mối liên kết này, chúng ta mới có thể phát triển thành công các công nghệ chiến lược và xây dựng một ngành cơ khí Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Do vậy, cần sớm hình thành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cơ khí chiến lược đến năm 2045, tập trung vào các lĩnh vực như thiết bị năng lượng, điện gió ngoài khơi, robot công nghiệp và hệ thống sản xuất thông minh, thiết bị đường sắt hiện đại, vật liệu tiên tiến, chế biến sâu khoáng sản. Chương trình cần được triển khai theo mô hình liên danh viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp để tạo ra các sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh mang thương hiệu Việt Nam.
Xin cảm ơn ông!
TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho rằng, với những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay, đặc biệt là định hướng phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển đất nước, nếu tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên kết và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành những hệ sinh thái nghiên cứu - phát triển mạnh, đủ năng lực làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược trong lĩnh vực cơ khí cũng như nhiều ngành công nghiệp nền tảng khác.