Cụ thể là những tác động liên hoàn từ năng lượng, sản xuất công nghiệp, nguồn thu ngân sách đến nước cho nông nghiệp và dân sinh. Đối với TP. Huế sẽ gặp những khó khăn khi đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên trong năm 2026.
Tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lượng
Cần làm rõ một điểm khi nhìn vào tình trạng thiếu nước tại các hồ thuỷ điện ở thành phố Huế: đó là thủy điện tại chỗ giảm sản lượng nhưng không đồng nghĩa thành phố Huế lập tức thiếu điện và sẽ thiếu điện.
Bởi vì nguồn điện cung cấp cho thành phố Huế được bảo đảm từ hệ thống điện quốc gia. Vì vậy, việc dòng chảy về Hương Điền, Bình Điền và một số hồ thủy điện suy giảm trước hết ảnh hưởng tới sản lượng điện của các nhà máy trên địa bàn.
Toàn cảnh công trình thủy điện Hương Điền nằm giữa vùng núi, cho thấy rõ mối liên hệ giữa hồ chứa, nguồn nước về hạ du và hoạt động phát điện
Tuy nhiên, sức ép nằm ở phía sau đó. Khi một nguồn điện tại chỗ suy giảm trong lúc nhu cầu của nền kinh tế tiếp tục tăng, dư địa vận hành của hệ thống cũng bị thu hẹp. Nếu xuất hiện tình huống cực đoan và phải điều chỉnh phụ tải, tác động sẽ nhanh chóng lan sang sản xuất, kinh doanh.
Nghị quyết số 113/NQ-HĐND ngày 9/12/2025 của HĐND TP. Huế về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đã được UBND thành phố cụ thể hóa tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 1/1/2026. Theo đó, thành phố đặt mục tiêu GRDP tăng từ 10% trở lên, GRDP bình quân đầu người đạt 3.500–3.600 USD; khu vực công nghiệp và xây dựng dự kiến chiếm 34–35% cơ cấu kinh tế. Thành phố cũng đặt mục tiêu thu ngân sách khoảng 16.000 tỷ đồng và thu hút 10.000–15.000 tỷ đồng vốn đầu tư đăng ký.
Để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng 2 con số cần một hệ thống hạ tầng đủ năng lực đáp ứng mức tăng cao hơn của sản xuất, đầu tư, thương mại và dịch vụ; trong đó điện là một trong những điều kiện đầu tiên.
Thực tế 6 tháng đầu năm càng làm yêu cầu ấy trở nên rõ nét. Theo Sở Tài chính TP. Huế, GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,33%; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 9,56%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,2%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khoảng 13,8%.
Nếu muốn hoàn thành mục tiêu cả năm từ 10% trở lên, tốc độ tăng trưởng trong các quý còn lại phải được đẩy lên cao hơn. Bởi vậy, độ ổn định của nguồn điện không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật của ngành Điện, mà trực tiếp liên quan khả năng duy trì nhịp sản xuất của nền kinh tế. Riêng Sở Công Thương TP. Huế cũng đặt mục tiêu năm 2026 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 16–17%.
Những ngành sử dụng nhiều điện hoặc yêu cầu cấp điện liên tục như cơ khí, dệt may, chế biến, vật liệu xây dựng, sản xuất nước sạch, du lịch – khách sạn, y tế, viễn thông và công nghệ thông tin vì thế đặc biệt nhạy cảm trước biến động nguồn cung.
Với doanh nghiệp, một lần gián đoạn điện không chỉ là mất vài giờ sản xuất. Dây chuyền có thể phải dừng; tiến độ giao hàng bị ảnh hưởng; sản phẩm dang dở có thể giảm chất lượng; chi phí vận hành tăng lên. Khi quy mô sản xuất càng lớn, tác động kinh tế của sự gián đoạn càng lớn.
Từ góc độ ngân sách, ảnh hưởng của nguồn nước đến thủy điện đã hiện hữu. Tại buổi làm việc với Sở Công Thương TP. Huế vào tháng 4/2026, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Văn Tuấn cho biết nguồn nước về các hồ thủy điện giảm, ảnh hưởng đến năng suất phát điện, qua đó khiến doanh thu thuế của thành phố giảm khoảng 100 tỷ đồng so với cùng kỳ.
Năm 2025, tổng sản lượng các nhà máy phát điện tại TP. Huế đạt 2,6 tỷ kWh điện, doanh thu hơn 2.712 tỷ đồng và nộp ngân sách 600 tỷ đồng; trong đó thuỷ điện chiếm đến 90%.
Như vậy, có thể nhìn thấy một chuỗi tác động liên hoàn khá rõ đó là nước giảm, sản lượng thủy điện giảm, doanh thu doanh nghiệp và nguồn thu ngân sách chịu tác động, khả năng đóng góp của nguồn điện tại chỗ giảm trong khi nhu cầu của nền kinh tế tiếp tục tăng.
Đó chính là mối liên hệ giữa an ninh nguồn nước – an ninh năng lượng – tăng trưởng kinh tế.
Nỗi lo từ phía hạ du
Những tác động của hạn hán không chỉ đi theo “đường dây điện”. Cùng một nguồn nước, nhà máy thủy điện cần để phát điện; phía dưới đập lại cần nước cho đồng ruộng, đời sống và duy trì môi trường sinh thái.
Ông Nguyễn Quang Hải, Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy điện Bình Điền cho biết, dù thiếu nước gây sụt giảm đáng kể công suất và sản lượng điện, nhà máy vẫn ưu tiên điều tiết nước phục vụ dân sinh và sản xuất nông nghiệp hạ du; sau đó mới tối ưu sản lượng điện trong phạm vi nguồn nước cho phép. Có thời điểm nhà máy phải giảm phát để tích nước phục vụ quy trình liên hồ.
Phía hạ lưu công trình thủy điện Bình Điền, mặc dù nước về hồ hạn chế nhưng chủ hồ đập vẫn ưu tiên đưa nước về hạ du, phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Điều đó cho thấy trong những thời điểm khô hạn, giá trị của một mét khối nước không thể chỉ quy đổi thành kWh điện.
Theo ông Đặng Văn Hòa, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Biến đổi khí hậu TP. Huế, lượng mưa những tháng đầu mùa khô thấp hơn trung bình nhiều năm. Đến đầu tháng 8/2026, nhờ xuất hiện mưa, ba hồ chứa lớn trên lưu vực sông Hương gồm Tả Trạch, Bình Điền và Hương Điền vận hành tương đối ổn định.
Tuy nhiên, nguy cơ thiếu nước cục bộ đã từng xuất hiện. Từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7/2026, các xã miền núi A Lưới chịu ảnh hưởng rõ rệt do thiếu mưa kéo dài, khiến nguồn nước tại nhiều khe, suối và đập dâng đầu nguồn suy giảm, tác động đến sản xuất nông nghiệp.
Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi TP. Huế đánh giá nguồn nước tại các hồ chứa và hệ thống thủy lợi cơ bản vẫn bảo đảm vụ Hè Thu, nhưng biến đổi khí hậu đang khiến thời tiết ngày càng cực đoan, mưa phân bố không đều và nắng nóng kéo dài; nếu điều tiết không hợp lý, thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra.
Nhìn ở góc độ rộng hơn, đây là một bài toán phân bổ nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu kém. Khi nước về nhiều, phát điện, nông nghiệp và dân sinh có thể đồng thời được đáp ứng. Khi nước ít, thứ tự ưu tiên phải được xác lập rõ ràng và từng quyết định xả nước đều mang theo chi phí cơ hội.
Đầu tháng 8/2026 hồ chứa thuỷ điện Bình Điền đang ở cao trình 63m, thấp hơn gần 20m so với kỳ cùng (cùng kỳ cao trình hồ chứa Bình Điền khoảng 83m), qua đó phản ánh rõ áp lực nguồn nước đối với hoạt động vận hành nhà máy thủy điện
TP. Huế hiện có 56 công trình đập, hồ chứa nước thủy điện và thủy lợi. Trong đó, hồ Tả Trạch là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; các hồ lớn như Hương Điền, Bình Điền, A Lưới không chỉ mang chức năng năng lượng mà còn tham gia điều tiết nguồn nước cho cả lưu vực.
Điều này làm cho câu chuyện hạn hán có phạm vi ảnh hưởng rộng hơn rất nhiều so với sản lượng của một nhà máy.
Từ nguồn nước, tác động lan sang điện; từ điện lan sang sản xuất và ngân sách; từ hồ chứa lan xuống đồng ruộng và đời sống dân cư.
Nghị quyết số 43/NQ-HĐND ngày 11/7/2026 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026–2030 cho thấy TP. Huế đang bước vào một chu kỳ phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, huy động nguồn lực đầu tư lớn và nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng.
Điều đó cũng có nghĩa yêu cầu đặt ra với hạ tầng năng lượng phải cao hơn một bước: không chỉ đủ cho nhu cầu hiện tại, mà phải có dư địa cho quy mô kinh tế lớn hơn và khả năng chống chịu trước những biến động khí hậu ngày càng khốc liệt.
Bởi vậy, thách thức của Huế không chỉ là vượt qua một mùa khô năm 2026. Quan trọng hơn là làm thế nào để mục tiêu tăng trưởng hai con số không bị đặt trên một nền tảng năng lượng dễ tổn thương trước biến đổi khí hậu.
Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh phải có năng lượng đi trước. Nhưng một hệ thống năng lượng muốn bền vững lại phải biết thích ứng với giới hạn ngày càng rõ hơn của tài nguyên nước.
Theo Quyết định số 01/QĐ-UBND triển khai Nghị quyết 113/NQ-HĐND: Năm 2026, TP. Huế đặt ra mục tiêu GRDP tăng từ 10% trở lên; GRDP bình quân đầu người: 3.500–3.600 USD; công nghiệp – xây dựng: 34–35% cơ cấu kinh tế; dự toán thu ngân sách: 16.000 tỷ đồng; Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: tăng 10–11%; Thu hút vốn đầu tư đăng ký: khoảng 10.000–15.000 tỷ đồng.
Kỳ 3: Xây “lá chắn” an ninh năng lượng