Cơ hội tái cấu trúc ngành năng lượng
Phát biểu tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” diễn ra mới đây, ông Đào Quang Bính - Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy cho biết, đến năm 2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng mạnh do tác động của quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số và sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn: nguồn cung truyền thống suy giảm, nhiều dự án chậm tiến độ, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thiếu hụt cơ chế tài chính cho các dự án quy mô lớn như khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), năng lượng tái tạo, hydrogen…
Trước thực tế đó, rà soát, hoàn thiện chính sách, tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế là nhiệm vụ cấp bách. Xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao chính là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây cũng là nền tảng quan trọng để ngành năng lượng Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững trong tương lai.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng - Ảnh Petrovietnam cung cấp
Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, năng lượng luôn được xem là “huyết mạch” của nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, yêu cầu đối với ngành năng lượng không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ điện, đủ nhiên liệu cho sản xuất và đời sống, mà còn phải xây dựng một thị trường năng lượng hiện đại, cạnh tranh, có khả năng thích ứng với quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu và đáp ứng các cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Đây vừa là cơ hội để tái cấu trúc ngành năng lượng, vừa là phép thử đối với năng lực hoạch định chính sách và tổ chức thực thi.
Thông tin về thực trạng ngành, ông Nguyễn Hùng Dũng cho biết, ngành năng lượng Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể. Hệ thống điện quốc gia được mở rộng nhanh chóng; hạ tầng dầu khí từng bước hoàn thiện; các nhà máy lọc dầu, khí, nhiệt điện, thủy điện và năng lượng tái tạo đã hình thành tương đối đồng bộ, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Cùng với đó, cơ cấu nguồn điện cũng đang thay đổi mạnh mẽ. Từ chỗ chủ yếu dựa vào thủy điện và nhiệt điện than, hệ thống đang chuyển sang mô hình đa dạng hơn với điện khí LNG, điện gió, điện mặt trời, điện hạt nhân, thủy điện tích năng, pin lưu trữ và các nguồn năng lượng mới.
Đáng chú ý, theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, điện thương phẩm dự kiến đạt khoảng 500,4 - 557,8 tỷ kWh; sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu đạt 560,4 - 624,6 tỷ kWh; công suất cực đại của hệ thống khoảng 89.655 - 99.934MW, cao gần gấp đôi hiện nay.
Với định hướng phát triển nêu trên, theo ông Dũng, Việt Nam đang hướng tới một hệ thống năng lượng quy mô lớn, đa dạng hơn và phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng. Tuy nhiên, quy hoạch mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là khả năng triển khai dự án đúng tiến độ và huy động được các nguồn lực xã hội.
Cũng theo ông Dũng, thị trường năng lượng hiện vẫn còn tồn tại một số “điểm nghẽn” cần sớm tháo gỡ. Thứ nhất, thị trường phát triển chưa đầy đủ, trong đó thị trường điện cạnh tranh của Việt Nam mới dừng ở một số cấp độ nhất định, còn thị trường khí và LNG gần như chưa hình thành.
Thứ hai, phát triển nguồn điện chưa đồng bộ với hạ tầng truyền tải. Trong giai đoạn bùng nổ điện mặt trời và điện gió, nhiều dự án đã hoàn thành nhưng không thể phát hết công suất do lưới điện quá tải. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho nhà đầu tư mà còn làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội.
Thứ ba là thiếu chính sách cho các ngành năng lượng mới. Trong khi nhiều quốc gia đã ban hành chiến lược quốc gia về hydrogen, thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), tín chỉ carbon…, thì ở Việt Nam, nhiều lĩnh vực vẫn chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi đầu tư, cơ chế định giá hay thị trường tiêu thụ. Điều này khiến doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư, còn các tổ chức tài chính cũng chưa có cơ sở để đánh giá hiệu quả của dự án.
Nhìn từ thực tiễn, khoảng cách giữa quy hoạch và thực hiện vẫn còn khá lớn. Đơn cử, trong số các dự án điện khí LNG được quy hoạch, mới chỉ có Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 bước vào giai đoạn vận hành, trong khi nhiều dự án như Sơn Mỹ, Long An, Bạc Liêu, Hải Phòng, Quảng Ninh, Cà Ná... vẫn gặp khó khăn về cơ chế đầu tư, hợp đồng mua bán điện, thu xếp vốn và hạ tầng kho cảng LNG.
Tương tự, điện gió ngoài khơi được đánh giá có tiềm năng khoảng 600GW nhưng đến nay chưa có dự án thương mại nào được triển khai. Hydrogen xanh, amoniac xanh hay công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon cũng mới dừng ở mức nghiên cứu và chuẩn bị đầu tư.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh địa chính trị quốc tế diễn biến phức tạp, an ninh năng lượng không chỉ phụ thuộc vào sản lượng trong nước mà còn gắn với khả năng ứng phó trước các cú sốc từ bên ngoài. Biến động tại Trung Đông hay nguy cơ gián đoạn các tuyến hàng hải quốc tế cho thấy Việt Nam cần sớm hoàn thiện cơ chế dự trữ năng lượng chiến lược, đa dạng hóa nguồn cung và xây dựng thị trường năng lượng có khả năng chống chịu cao trước biến động toàn cầu. “Vấn đề của ngành năng lượng Việt Nam hiện nay không còn nằm ở tiềm năng tài nguyên hay nhu cầu thị trường, mà chủ yếu nằm ở thể chế và môi trường đầu tư”, ông Dũng nhận định.
Hoàn thiện thể chế, tạo động lực để ngành năng lượng bứt phá
Từ thực trạng và các điểm nghẽn nêu trên, TS. Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, để thúc đẩy ngành năng lượng phát triển, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo cao. Theo đó, cần rà soát toàn bộ các quy định liên quan đến đầu tư năng lượng, bảo đảm sự thống nhất giữa các luật chuyên ngành; đồng thời đơn giản hóa thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án. Cùng với đó, xây dựng đầy đủ thị trường năng lượng cạnh tranh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trọng tâm là sớm hoàn thiện cơ chế giá điện, thị trường khí và LNG, hợp đồng mua bán điện dài hạn, cơ chế chia sẻ rủi ro, tín chỉ carbon và các công cụ tài chính xanh nhằm thu hút nguồn vốn tư nhân và quốc tế.
Đồng quan điểm, bà Vũ Yến Hằng - Chủ tịch Minh Triết Capital JSC cho rằng, trong thập kỷ tới, Việt Nam có thể cần khoảng 1,5 nghìn tỷ USD vốn đầu tư cho tất cả các ngành, trong đó năng lượng và hạ tầng là hai lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Vì vậy, cải cách thể chế trong lĩnh vực năng lượng cần được đặt trong tổng thể cải cách chính sách rộng hơn, với mục tiêu cuối cùng là tạo dựng một môi trường đủ minh bạch, có khả năng dự báo và đủ nhanh để dòng vốn quốc tế lựa chọn Việt Nam.
Đầu tư vào hạ tầng năng lượng đòi hỏi về nguồn vốn rất lớn - Ảnh: Petrovietnam
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu vốn sẽ không chỉ tập trung vào các nguồn điện truyền thống mà còn mở rộng sang LNG, năng lượng tái tạo, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), điện gió ngoài khơi và nhiều công nghệ mới. Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành nhiều hệ sinh thái mới, từ tài chính, kinh tế biển, tài chính hàng hải, hàng không đến trung tâm tài chính quốc tế. Vấn đề chung của các hệ sinh thái này là làm thế nào huy động được nguồn vốn lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới.
Chia sẻ về thu hút các nguồn vốn, ông Marc Knapper - thành viên Hội đồng Cố vấn Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) cho rằng, yêu cầu phát triển hạ tầng năng lượng và tăng khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên năng lượng sẽ tiếp tục đưa Việt Nam trở thành điểm đến rất hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, dù là đầu tư vào thị trường vốn của Việt Nam hay đầu tư trực tiếp vào hạ tầng năng lượng.
Theo ông Marc Knapper, đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhờ nỗ lực của các ngân hàng trong nước. Tuy nhiên, rõ ràng nguồn lực này sẽ không đủ để đáp ứng những tham vọng rất lớn của Việt Nam trong 2 - 3 thập kỷ tới, đó là trở thành một nền kinh tế thu nhập cao, công nghệ cao và xanh.
“Với tư cách là thành viên Hội đồng Cố vấn Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), tôi cho rằng việc phát triển ngành năng lượng Việt Nam sẽ không thể thực hiện được nếu không có khả năng tiếp cận nguồn vốn đáng kể”, ông Marc Knapper cho biết.
Để ngành năng lượng thực sự trở thành động lực tăng trưởng, TS. Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, phải phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp năng lượng. Không chỉ đầu tư nguồn điện, cần đồng thời phát triển hạ tầng truyền tải, hệ thống lưu trữ, chuỗi cung ứng thiết bị, công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, cần khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen và các ngành năng lượng mới, qua đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nhìn dưới góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Đào Thái Trường - Tổng Giám đốc Roland Berger Việt Nam nêu quan điểm, một điểm quan trọng trong chiến lược của Việt Nam là cần tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực điện năng, năng lượng tái tạo, bao gồm cả điện gió. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển ngành trong tương lai.
“Tôi nghĩ rằng Việt Nam cần bao quát toàn bộ các lĩnh vực từ dầu khí, điện năng, hạ tầng đến các lĩnh vực liên quan, đồng thời xây dựng cả hệ sinh thái EPC (thiết kế - cung ứng vật tư thiết bị - thi công xây dựng), tức là mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ EPC. Tất cả những lĩnh vực này cần được mở rộng một cách xuyên suốt”, ông Bùi Đào Thái Trường chia sẻ.
Vấn đề của ngành năng lượng không nằm ở tiềm năng hay nhu cầu thị trường, mà nằm ở khả năng biến quy hoạch thành dự án và huy động được nguồn lực. Vì vậy, hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định, có tính dự báo cao; xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh và phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp năng lượng là những yêu cầu cấp bách. Khi các “điểm nghẽn” được tháo gỡ, môi trường đầu tư minh bạch và hấp dẫn sẽ là “đòn bẩy” để thu hút dòng vốn tư nhân và quốc tế. Từ đó, ngành năng lượng Việt Nam sẽ có thêm điều kiện để bứt phá, phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, điện thương phẩm dự kiến đạt khoảng 500,4 - 557,8 tỷ kWh; sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu đạt 560,4 - 624,6 tỷ kWh; công suất cực đại của hệ thống khoảng 89.655 - 99.934MW, cao gần gấp đôi hiện nay.