Đóng

Thể chế và quản trị là nguồn lực của mọi nguồn lực

Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam phải chuyển từ “huy động” sang “giải phóng nguồn lực, từ “quản lý sự vận động” sang “kiến tạo sự bứt phá”.

Sáng 20/5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về đánh giá nguồn lực phát triển đất nước gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 con số và xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, muốn đạt mục tiêu rất cao mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 đặt ra thì phải thay đổi căn bản cách thức tổ chức, vận hành các nguồn lực phát triển. Nói cách khác, tăng trưởng 2 con số không thể là kết quả của mô hình tăng trưởng cũ được kéo dài thêm.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Nhóm tư vấn của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: Nguyên Khánh

Xoay quanh chủ đề trên, TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Nhóm tư vấn của Thủ tướng Chính phủ đã phân tích và đưa ra một số giải pháp đổi mới tư duy quản lý, xóa bỏ tư duy cấm đoán, giải phóng triệt để lực lượng sản xuất.

Ba nhóm nguồn lực chiến lược và cơ chế "mở khoá" phát triển

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phải đổi mới tư duy về nguồn lực. Nguồn lực phải được kiến tạo, làm giàu, kết nối và nhân lên. Đồng thời đưa ra ba câu hỏi: Nguồn lực nào là lợi thế nổi trội? Nguồn lực nào có thể huy động ngay? Nguồn lực nào mới là tiềm năng, chưa được chuyển hóa thành động lực phát triển? Vậy theo ông, cơ chế nào để nguồn lực đi vào phát triển, phục vụ tăng trưởng?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Câu hỏi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thực chất là một câu hỏi rất lớn về mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Theo tôi, điểm đặc biệt quan trọng ở đây ngoài nói về “huy động nguồn lực”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước còn nhấn mạnh phải “kiến tạo, làm giàu, kết nối và nhân lên nguồn lực”. Đây là một bước chuyển rất sâu sắc về tư duy phát triển.

Trong mô hình tăng trưởng cũ, chúng ta thường hiểu nguồn lực theo nghĩa khá tĩnh: đất đai, vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên… nhưng trong thế giới hiện đại, nguồn lực lớn nhất lại không nằm ở những gì sẵn có, mà nằm ở năng lực tạo ra giá trị mới từ những thứ tưởng như vô hình: thể chế, dữ liệu, công nghệ, niềm tin xã hội, năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị quốc gia. Vì vậy, nếu nhìn từ góc độ thể chế, tôi cho rằng, Việt Nam hiện nay có ba nhóm nguồn lực rất đáng chú ý.

Thứ nhất, nguồn lực lợi thế nổi trội của Việt Nam chính là sự ổn định chính trị, vị thế địa chính trị và khát vọng phát triển của dân tộc. Không nhiều quốc gia vừa có ổn định chính trị, vừa có độ mở kinh tế cao, vừa nằm ở vị trí chiến lược trong tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu như Việt Nam. Nhưng muốn đưa những lợi thế địa chính trị thành lợi ích phát triển thì phải có năng lực hấp thu thể chế đủ mạnh.

Thứ hai, nguồn lực có thể huy động ngay chính là khu vực kinh tế tư nhân, nguồn lực trong dân và nguồn lực từ cải cách thể chế. Tôi cho rằng đây là điểm đặc biệt quan trọng. Tiền bạc trong dân không hề ít. Năng lực sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam cũng không hề nhỏ. Vấn đề là nhiều nguồn lực đang bị “đóng băng” bởi thủ tục, điều kiện kinh doanh, cơ chế xin - cho và tâm lý sợ trách nhiệm. Vì vậy, cải cách thể chế thực chất là giải phóng nguồn lực.

Thứ ba, nguồn lực tiềm năng lớn nhất nhưng chưa được chuyển hóa đầy đủ thành động lực phát triển chính là nguồn lực con người và nguồn lực dữ liệu. Việt Nam có dân số trẻ, khả năng thích ứng công nghệ nhanh, tinh thần hiếu học rất cao. Nhưng nếu giáo dục không đổi mới, môi trường sáng tạo không được cởi mở, nhân tài không có không gian phát triển, nguồn lực ấy sẽ không thể chuyển hóa thành năng suất quốc gia.

Tương tự như vậy, dữ liệu đang trở thành “tài nguyên chiến lược” của thời đại số. Cần được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả.

Theo tôi, cơ chế quan trọng nhất để nguồn lực đi vào phát triển chính là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Nhà nước không nên làm thay thị trường, nhưng Nhà nước phải kiến tạo môi trường để thị trường vận hành hiệu quả. Điều doanh nghiệp cần nhất không phải là ưu đãi xin - cho, mà là một môi trường thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ thấp và quyền tài sản được bảo vệ an toàn.

Muốn vậy, cần một cuộc cải cách rất mạnh về quản trị quốc gia: chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh sang quản lý bằng tiêu chuẩn và dữ liệu; xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; thay cơ chế xin - cho bằng cơ chế cạnh tranh công bằng; và đặc biệt là trao quyền nhiều hơn cho địa phương, doanh nghiệp và người dân đi đôi với trách nhiệm giải trình.

5 điều kiện cốt lõi để xoá bỏ tư duy "không quản được thì cấm"

- Trước yêu cầu dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm" và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm có kiểm soát. Theo ông, cần những điều kiện gì để sự chuyển đổi đó diễn ra thực chất?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Tôi cho rằng, đây là một trong những chuyển đổi tư duy quản trị quan trọng nhất mà Việt Nam đang đặt ra hiện nay. Bởi vì đằng sau câu chuyện “tiền kiểm hay hậu kiểm” thực chất là sự thay đổi triết lý quản lý nhà nước.

Tiền kiểm phản ánh tư duy quản lý dựa trên sự nghi ngờ: người dân và doanh nghiệp chỉ được làm khi Nhà nước cho phép. Trong khi đó, hậu kiểm phản ánh tư duy phát triển hiện đại: người dân và doanh nghiệp được quyền tự do sáng tạo, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, còn Nhà nước tập trung giám sát rủi ro và xử lý vi phạm.

Đây là thay đổi cách nhìn về mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường và xã hội. Tuy nhiên, muốn chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm một cách thực chất, theo tôi phải hội đủ ít nhất 5 điều kiện rất quan trọng.

Thứ nhất, phải thay đổi tư duy quyền lực công. Muốn cải cách thực chất, Nhà nước phải chuyển từ tư duy “quản cho chặt” sang tư duy “tạo điều kiện để phát triển nhưng kiểm soát được rủi ro”. Nói cách khác, mục tiêu của quản lý nhà nước không phải là ngăn cản sự phát triển để bảo đảm an toàn tuyệt đối, mà là quản trị rủi ro ở mức chấp nhận được để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, phải xây dựng được một hệ thống hậu kiểm đủ mạnh. Rất nhiều người hiểu sai rằng bỏ tiền kiểm là buông lỏng quản lý. Thực ra, hậu kiểm hiện đại đòi hỏi năng lực quản trị còn cao hơn tiền kiểm.

Muốn hậu kiểm hiệu quả phải có: hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng; dữ liệu minh bạch; công nghệ giám sát thời gian thực; cơ chế truy xuất trách nhiệm; chế tài xử lý nghiêm minh; và đặc biệt là năng lực phân tích rủi ro… để giám sát liên tục trong quá trình hoạt động. Đó mới là quản trị hiện đại.

Thứ ba, phải chuyển mạnh sang quản lý bằng tiêu chuẩn thay vì quản lý bằng xin - cho. Một nền kinh tế hiện đại không thể vận hành bằng hàng chục nghìn giấy phép con. Nhà nước cần tập trung xây dựng chuẩn mực, quy chuẩn và cơ chế giám sát minh bạch, còn doanh nghiệp được quyền lựa chọn cách thức thực hiện.

Thứ tư, phải bảo vệ cán bộ dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm. Đây là điều rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Nếu cán bộ vẫn sợ sai, sợ trách nhiệm, phản ứng tự nhiên của họ sẽ là giữ tiền kiểm càng nhiều càng an toàn.

Bởi tiền kiểm giúp cơ quan quản lý “giữ quyền”, còn hậu kiểm đòi hỏi phải chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định.

Cho nên, muốn cải cách thực chất phải có cơ chế phân định rõ: đâu là sai phạm vụ lợi; đâu là rủi ro trong thử nghiệm chính sách; đâu là đổi mới vì lợi ích chung. Nếu không giải quyết được tâm lý sợ trách nhiệm, cải cách sẽ rất khó đi đến cùng.

Và cuối cùng, theo tôi, điều kiện quan trọng nhất chính là xây dựng niềm tin thể chế. Một xã hội phát triển không thể vận hành hoàn toàn bằng mệnh lệnh hành chính. Nó phải dựa trên niềm tin giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Khi người dân tin rằng luật pháp công bằng, thực thi minh bạch và vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh, chi phí kiểm soát của Nhà nước sẽ giảm xuống rất nhiều.

Giải pháp cho hệ điều hành quốc gia phát triển

- Thể chế và quản trị được coi là nguồn lực đặc biệt, nguồn lực của mọi nguồn lực”, vậy giải pháp nào để giải phóng lực lượng sản xuất, mở không gian phát triển và tạo động lực tăng trưởng mới để tăng trưởng 2 con số thực chất, thưa ông?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, nếu coi thể chế và quản trị là “nguồn lực của mọi nguồn lực”, thì cải cách thể chế không thể chỉ là sửa vài thủ tục, cắt vài giấy phép. Nó phải là một cuộc mở khóa phát triển ở tầm hệ điều hành quốc gia.

Muốn giải phóng lực lượng sản xuất và tạo động lực tăng trưởng mới, trước hết phải làm 5 việc lớn.

Thứ nhất, phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh thực chất. Người dân và doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm; những gì cần hạn chế phải được quy định rõ ràng, minh bạch, có lý do chính đáng và có thời hạn rà soát.

Thứ hai, phải chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm có kiểm soát. Đây là cách mở không gian sáng tạo cho xã hội. Nhà nước không đứng trước cổng để hỏi “anh có được phép làm không”, mà đứng trong hệ thống để theo dõi “anh có làm đúng chuẩn, đúng luật, đúng cam kết không”.

Thứ ba, phải biến tài sản đang “nằm im” thành nguồn lực phát triển. Đất đai, tài sản công, dữ liệu, hạ tầng, không gian đô thị, nguồn lực trong dân… nếu bị khóa bởi thủ tục và cơ chế xin - cho đều trở thành nguồn lực chết. Cải cách thể chế phải làm cho các nguồn lực đó được định giá đúng, giao dịch minh bạch, sử dụng hiệu quả và chảy vào những ngành, những vùng, những dự án có năng suất cao hơn.

Thứ tư, phải mở không gian phát triển mới cho kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng trưởng 2 con số không thể dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ hay đầu tư dàn trải. Nó phải dựa vào năng suất, công nghệ, dữ liệu, nhân tài và doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Vì vậy, cần các sandbox chính sách, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thị trường vốn hiện đại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế mua sắm công khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, phải nâng cấp năng lực thực thi. Thể chế hay đến đâu mà thực thi yếu vẫn không tạo ra tăng trưởng. Cần đo lường cải cách bằng kết quả thật: doanh nghiệp có gia nhập thị trường nhanh hơn không, chi phí tuân thủ có giảm không, dự án có triển khai nhanh hơn không, cán bộ có dám quyết không, người dân có được phục vụ tốt hơn không. Quản trị hiện đại phải dựa trên dữ liệu, KPI công vụ và trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Tôi cho rằng thông điệp quan trọng nhất là: muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam phải chuyển từ “huy động nguồn lực” sang “giải phóng nguồn lực”; từ “quản lý sự vận động” sang “kiến tạo sự bứt phá”.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Tăng trưởng thực chất không đến từ việc bơm thêm vốn vào một mô hình cũ, mà đến từ việc tháo bỏ những điểm nghẽn làm cho vốn, đất đai, lao động, công nghệ và tài năng không gặp được nhau. Khi thể chế thông thoáng, quản trị minh bạch, quyền tự do kinh doanh được bảo vệ và rủi ro được kiểm soát bằng dữ liệu, lực lượng sản xuất sẽ được giải phóng. Và khi lực lượng sản xuất được giải phóng, tăng trưởng 2 con số có thể trở thành năng lực phát triển thực sự của quốc gia".

Nguyên Khánh