Đóng

Thị trường gỗ nội địa hướng tới chuẩn mực, minh bạch và bền vững

Hội thảo VIBE 2026 đặt vấn đề xây dựng thị trường gỗ nội địa hợp pháp, chất lượng, thúc đẩy tiêu dùng bền vững, gia tăng giá trị cho doanh nghiệp Việt Nam trong dài hạn.

Dư địa lớn từ thị trường hơn 100 triệu dân

Sáng 2/10, tại TP. Hồ Chí Minh diễn ra Hội thảo “Xây dựng thị trường gỗ nội địa hợp pháp, chất lượng và bền vững”, trong khuôn khổ VIBE 2026. Sự kiện do Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cùng các đơn vị liên quan tổ chức.

Đại biểu tham dự sự kiện.

Hội thảo tập trung nhìn nhận thị trường, chia sẻ kinh nghiệm của doanh nghiệp tiên phong, tiếp cận nhu cầu mua sắm qua thương mại điện tử; trao đổi sáng kiến thúc đẩy mua sắm công bàn ghế học sinh hợp pháp, an toàn, ưu tiên gỗ rừng trồng trong nước.

Chia sẻ tại hội thảo, ông Nguyễn Hoài Bảo, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HAWA, cho biết ngành gỗ Việt Nam đã khẳng định năng lực sản xuất trên thị trường quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 17,2 tỷ USD.

Riêng thị trường Hoa Kỳ đạt gần 9,5 tỷ USD, chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 11,7 tỷ USD. Những con số này cho thấy doanh nghiệp gỗ và nội thất Việt Nam đã có năng lực sản xuất, quản trị và đáp ứng yêu cầu của các thị trường quốc tế.

Ông Nguyễn Hoài Bảo, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HAWA.

Với quy mô dân số trên 100 triệu người, quá trình đô thị hóa cùng nhu cầu ngày càng cao đối với nhà ở, xây dựng và không gian sống, thị trường nội địa là dư địa ngành gỗ cần nhìn nhận nghiêm túc. Theo HAWA, thị trường này cần có chuẩn mực rõ ràng về nguồn gốc gỗ, tính hợp pháp, chất lượng và độ an toàn.

Đóng góp ý kiến tại hội thảo, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho rằng với dân số hơn 100 triệu người, thị trường gỗ nội địa có dư địa lớn để trở thành động lực tăng trưởng của ngành gỗ.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, mức chi tiêu bình quân của người Việt Nam cho sản phẩm gỗ và nội thất hiện khoảng 50 USD/người. Nhu cầu đối với sản phẩm gỗ còn nhiều dư địa khi dân số tiếp tục tăng và kinh tế hướng tới tốc độ tăng trưởng hai con số.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.

Ông cho biết, nếu thị trường nội địa duy trì mức tăng trưởng khoảng 7-9%/năm, quy mô thị trường đến năm 2030 có thể đạt khoảng 7,7-8 tỷ USD/năm.

Thị trường nội địa cần được nhìn nhận như một không gian phát triển lâu dài, gồm nội thất gia đình, công trình, mua sắm công, giấy và bao bì, năng lượng sinh khối và các sản phẩm vật liệu từ gỗ. Nội thất gia đình vẫn là nhóm có nhu cầu lớn; công trình và mua sắm công có thể thúc đẩy cầu.

Tuy nhiên, thị trường nội địa đang đối mặt với một số hạn chế như chuỗi cung ứng phân mảnh, thiếu minh bạch về nguồn gốc, chất lượng, độ bền và phát thải; thương hiệu và dữ liệu thị trường chưa được quan tâm đúng mức.

Ông Ngô Sỹ Hoài cho rằng mua sắm công có thể tạo đòn bẩy để hình thành thị trường chính thức. Mỗi gói mua sắm đồ gỗ, nội thất cần được xem xét gắn với yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp và quản lý rừng bền vững.

Gỗ hợp pháp cần trở thành chuẩn tối thiểu của thị trường nội địa. Doanh nghiệp cần xây dựng mô hình phù hợp với từng phân khúc, đẩy mạnh số hóa, cạnh tranh bằng chất lượng, dịch vụ hậu mãi và công bố nguồn gốc.

Doanh nghiệp gỗ xây dựng giá trị từ thị trường nội địa

Chia sẻ tại hội thảo, ông Nguyễn Minh Cương, Chủ nhiệm Câu lạc bộ HAWA miền Bắc, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Gỗ Minh Long, cho biết doanh nghiệp tham gia thị trường từ năm 2005. Giai đoạn đầu, doanh nghiệp tập trung sản xuất nguyên liệu cho ngành nội thất xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu.

Ông Nguyễn Minh Cương, Chủ nhiệm Câu lạc bộ HAWA miền Bắc, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Gỗ Minh Long.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Minh Cương, doanh nghiệp nhận thấy việc gia công, xuất khẩu chưa tạo ra nhiều giá trị về chất xám. Từ đó, ông dành thời gian nghiên cứu thị trường nước ngoài và cách các quốc gia đáp ứng nhu cầu của người dân để chuyển hướng. Hiện khoảng 95% hoạt động của doanh nghiệp tập trung vào thị trường nội địa, xuất khẩu chiếm khoảng 3-5%.

Lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam cần dựa trên bản sắc, văn hóa, trí tuệ và con người Việt Nam. Từ việc phục vụ tốt người Việt, doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm để phục vụ thị trường quốc tế.

Ông Nguyễn Minh Cương cho rằng một trong những khó khăn lớn của thị trường nội địa là quy chuẩn, tiêu chuẩn. Sản phẩm gỗ, nội thất chịu tác động lớn bởi nhiệt độ, độ ẩm và điều kiện môi trường. Việt Nam có điều kiện tự nhiên khác nhau giữa các vùng, do đó sản phẩm cần đáp ứng yêu cầu phù hợp.

Doanh nghiệp đã xây dựng một số tiêu chuẩn riêng để kiểm tra độ bền vật liệu trong điều kiện khắc nghiệt. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn này cần được thể chế hóa để có cơ sở áp dụng rộng rãi.

Nguồn nguyên liệu và bài toán chuyển đổi làng nghề

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Hội Gỗ Xây dựng TP. Hồ Chí Minh (SAWA), Chủ tịch HĐQT Tavico Group, cho biết quá trình tham gia thị trường gỗ nội địa của doanh nghiệp gắn với việc đưa nguồn nguyên liệu và sản phẩm gỗ đến gần hơn với người tiêu dùng Việt Nam.

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Hội Gỗ Xây dựng TP. Hồ Chí Minh (SAWA), Chủ tịch HĐQT Tavico Group.

Từ những năm đầu ngành gỗ Việt Nam phát triển, nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước chưa nhiều nên doanh nghiệp phải nhập khẩu gỗ để phục vụ chế biến. Tavico ban đầu cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ Việt Nam, phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu.

Ông Võ Quang Hà có cơ hội tiếp cận các làng nghề phía Bắc và nhận thấy tiềm năng của thị trường nội địa. Ông cho rằng cần tạo điều kiện để người Việt sử dụng các sản phẩm gỗ do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, đồng thời từng bước thay đổi nguồn nguyên liệu.

Trong hệ thống phân phối phục vụ thị trường nội địa, gỗ rừng tự nhiên vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Đây là vấn đề ông trăn trở khi đồng hành với các làng nghề và tiểu thương. Theo ông, thay đổi thói quen sản xuất, kinh doanh truyền thống là quá trình khó khăn, nhất là tại các làng nghề.

Để thúc đẩy chuyển đổi, ông Võ Quang Hà cho rằng cần quan tâm đến công nghệ, mặt bằng và thiết bị sản xuất. Các làng nghề cần có không gian phù hợp cho hoạt động xẻ, sấy và đầu tư máy móc, thiết bị; đồng thời cần sự hỗ trợ từ Nhà nước và địa phương.

Thanh Minh