Đóng

Thu hút là bước đầu, trọng dụng nhân tài mới là mục tiêu cuối cùng

Theo TS. Trần Hải Linh, để trọng dụng nhân tài, cần kiến tạo môi trường mà người tài muốn về, làm được việc và muốn ở lại, dựa trên niềm tin và sự trao quyền.

Mục tiêu cuối cùng là trọng dụng nhân tài

Ngày 15/10/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Mục tiêu tổng quát của Kết luận số 105-KL/TW là xây dựng hệ thống quản trị nhân tài quốc gia hiện đại, thống nhất, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế; hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao, đủ mạnh, có cơ cấu hợp lý trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, có khả năng dẫn dắt giải quyết các bài toán lớn của đất nước. Xây dựng Việt Nam trở thành môi trường hấp dẫn, nơi nhân tài được tôn trọng, tin tưởng và phát huy tối đa năng lực, sức sáng tạo.

Kết luận cũng đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030, thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia, gồm cả khu vực công và tư; thuộc nhóm 03 nước đứng đầu ASEAN về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu. Đến năm 2045 là phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu và là điểm đến hấp dẫn của nhân tài trong khu vực và trên thế giới.

Điểm nổi bật của Kết luận 105-KL/TW là việc xác định “nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia”. Nhận thức này đặt nhân tài vào vị trí trung tâm của chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh, làm chủ công nghệ, đổi mới mô hình tăng trưởng và bảo đảm tự chủ chiến lược. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, quốc gia nào tạo được môi trường hấp dẫn để phát hiện, nuôi dưỡng và phát huy trí tuệ con người sẽ có lợi thế phát triển lâu dài.

TS. Trần Hải Linh trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về những ý nghĩa của Kết luận 105-KL/TW và đề xuất giải pháp để thu hút, trọng dụng nhân tài.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, dưới góc độ là doanh nhân có nhiều năm sinh sống, làm việc ở nước ngoài, TS. Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), Chủ tịch sáng lập Hội chuyên gia, trí thức Việt Nam - Hàn Quốc (VKEIA) đánh giá cao những quan điểm chỉ đạo, ý nghĩa của Kết luận số 105-KL/TW. Theo ông, Kết luận 105-KL/TW không chỉ nhấn mạnh yêu cầu thu hút mà còn đặt trọng dụng ở vị trí then chốt.

TS. Trần Hải Linh phân tích, nói đến “trọng dụng nhân tài” điều quan trọng nhất không phải là mời được bao nhiêu người giỏi trở về, mà là sau khi họ trở về hoặc tham gia đóng góp từ xa, họ có được làm đúng việc, được trao đủ quyền, có đủ điều kiện để phát huy năng lực và tạo ra giá trị cho đất nước hay không.

“Cần phân biệt rõ: thu hút nhân tài là bước đầu, trọng dụng nhân tài mới là mục tiêu cuối cùng. Một chính sách có thể hấp dẫn một nhà khoa học, chuyên gia hay doanh nhân kiều bào trở về Việt Nam, nhưng nếu họ phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính, bị ràng buộc bởi ngạch bậc, thâm niên, cơ chế tiền lương cứng nhắc hoặc không có quyền chủ động chuyên môn thì rất khó giữ chân họ lâu dài”, TS. Trần Hải Linh nêu quan điểm.

Cũng theo TS. Trần Hải Linh, từ thực tiễn nhiều năm sinh sống và làm việc ở nước ngoài, phần lớn trí thức kiều bào có năng lực đều có tình cảm và mong muốn đóng góp cho quê hương. Nhưng phải nhìn vấn đề một cách thực tế hơn đó là một chuyên gia đang làm việc tại Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu khi trở về Việt Nam không chỉ thay đổi nơi làm việc, mà có thể phải thay đổi cả hệ sinh thái nghề nghiệp và cuộc sống của gia đình. Vì vậy, muốn thu hút và trọng dụng nhân tài, trước hết phải kiến tạo một môi trường để người tài muốn về, có thể về, làm được việc và muốn ở lại.

Kết nối trí tuệ Việt Nam toàn cầu 

Chia sẻ về giải pháp kiến tạo môi trường để thu hút, trọng dụng nhân tài, TS. Trần Hải Linh cho rằng, trước hết đó phải là môi trường của niềm tin và sự trao quyền. Người tài cần được giao những bài toán đủ lớn, mục tiêu rõ ràng và quyền chủ động tương xứng. Nhà khoa học phải có không gian nghiên cứu; chuyên gia công nghệ phải có quyền thử nghiệm; doanh nhân phải có môi trường đầu tư minh bạch. Người có năng lực phải được đánh giá bằng sản phẩm và kết quả, chứ không chủ yếu dựa vào tuổi tác, thâm niên hay ngạch bậc.

Thứ hai là môi trường đãi ngộ có tính cạnh tranh. Theo TS. Trần Hải Linh, khó có thể yêu cầu một chuyên gia quốc tế hay trí thức kiều bào từ bỏ môi trường nghề nghiệp tốt để trở về chỉ bằng lời kêu gọi tình cảm. “Tình yêu quê hương là động lực rất lớn, nhưng chính sách phải công bằng và chuyên nghiệp”, ông nói. Tiền lương, thù lao nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ, điều kiện làm việc, nhà ở, thuế, y tế, giáo dục cho con cái và cơ hội nghề nghiệp của gia đình cần được xem xét một cách tổng thể.

TS. Trần Hải Linh đề xuất, chính sách nhân tài cần chuyển từ tư duy “kéo người tài về” sang “kết nối trí tuệ Việt Nam toàn cầu với những bài toán phát triển của đất nước.

Thứ ba là thủ tục thuận lợi, có đầu mối chịu trách nhiệm. TS. Trần Hải Linh cho biết, ông rất kỳ vọng vào tư duy xây dựng “thị thực nhân tài Việt Nam” và cơ chế một cửa. “Nhưng xa hơn một loại thị thực, chúng ta cần một ‘cánh cửa nhân tài’ thực sự”, TS. Trần Hải Linh nhấn mạnh. Theo đó, từ cư trú, lao động, thuế, công nhận bằng cấp đến triển khai đề tài, dự án, thành lập doanh nghiệp hay đưa gia đình về sinh sống, mọi việc đều cần có đầu mối hướng dẫn, thời hạn xử lý và trách nhiệm rõ ràng.

Đặc biệt, theo TS. Trần Hải Linh, trong thời đại số, đóng góp cho Tổ quốc không nhất thiết đồng nghĩa với việc trở về Việt Nam sinh sống toàn thời gian. Một giáo sư người Việt ở Hoa Kỳ có thể đồng chủ trì một nhóm nghiên cứu tại Việt Nam. Một kỹ sư bán dẫn ở Hàn Quốc có thể tham gia đào tạo kỹ sư trong nước. Một chuyên gia tài chính ở Singapore có thể tư vấn cho trung tâm tài chính của Việt Nam. Một doanh nhân kiều bào có thể vừa phát triển sự nghiệp ở nước sở tại, vừa mở thị trường cho doanh nghiệp Việt.

Vì vậy, TS. Trần Hải Linh đề xuất, chính sách nhân tài cần chuyển từ tư duy “kéo người tài về” sang “kết nối trí tuệ Việt Nam toàn cầu với những bài toán phát triển của đất nước”. Người tài có thể về lâu dài, về theo dự án, làm việc luân phiên hoặc đóng góp xuyên biên giới. Điều quan trọng nhất vẫn là kết quả.

TS. Trần Hải Linh cũng mong muốn Nhà nước quan tâm hơn nữa tới con em kiều bào thế hệ thứ hai, thứ ba. Đây là nguồn lực rất quý. Nhiều bạn trẻ được đào tạo trong môi trường quốc tế, thành thạo ngoại ngữ, công nghệ và có tư duy toàn cầu. Tuy nhiên, tình cảm với Việt Nam của thế hệ này không thể chỉ dựa vào ký ức quê hương như thế hệ cha mẹ.

“Chúng ta phải tạo cho các em một lý do để gắn bó với Việt Nam bằng tương lai của chính mình”, ông nói. Đó là những chương trình thực tập, nghiên cứu, khởi nghiệp, trao đổi tại Việt Nam; cơ hội tham gia các dự án quốc gia; mạng lưới tài năng trẻ Việt Nam toàn cầu; và quan trọng nhất là một môi trường mà các em cảm thấy năng lực của mình được tôn trọng.

“Tôi mong một ngày, một người trẻ gốc Việt sinh ra tại Seoul, Paris hay California không chỉ nói rằng ‘Việt Nam là quê hương của cha mẹ tôi’, mà còn có thể nói: ‘Việt Nam là nơi tôi muốn đầu tư trí tuệ và xây dựng một phần tương lai của mình’”, TS. Trần Hải Linh chia sẻ. Theo ông, đó mới là thành công lâu dài của chính sách đại đoàn kết và trọng dụng nhân tài.

TS. Trần Hải Linh kiến nghị, “Không chỉ dừng ở việc xây dựng chính sách để gọi người tài trở về; hãy kiến tạo một đất nước mà người tài muốn tìm đến, muốn cống hiến và muốn gắn bó. Đừng chỉ hỏi kiều bào yêu quê hương đến đâu; hãy tạo cho họ cơ hội để biến tình yêu ấy thành công trình khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, sản phẩm và những giá trị cụ thể cho đất nước. Khi Việt Nam trở thành nơi tài năng được tin tưởng, trao quyền và tôn trọng, trí tuệ của người Việt trên toàn thế giới sẽ tự nhiên tìm được con đường trở về với Tổ quốc”.

Kết luận 105-KL/TW đặt mục tiêu đến năm 2045: Việt Nam có năng lực bảo đảm chủ động nguồn lực nhân tài đáp ứng yêu cầu của quốc gia phát triển, thu nhập cao; thể chế và hệ thống quản trị nhân tài đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, hội nhập quốc tế; xây dựng được đội ngũ nhân tài, chuyên gia trình độ cao có khả năng dẫn dắt các lĩnh vực chiến lược, làm chủ và phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu và là điểm đến hấp dẫn của nhân tài trong khu vực và trên thế giới.

Hoàng Hòa