Giữa trập trùng rừng núi, nơi những bản làng vùng cao của Lai Châu còn nhiều khó khăn về hạ tầng thông tin, mô hình “Thư viện pháp luật số” do Bộ đội Biên phòng tỉnh triển khai đã và đang tạo nên một cách làm mới trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Không chỉ là bước chuyển đổi số trong hoạt động nghiệp vụ, đây còn là giải pháp thiết thực nhằm đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với đồng bào các dân tộc nơi phên giậu Tổ quốc.
Mô hình “Thư viện pháp luật số” do Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu triển khai đã và đang tạo nên một cách làm mới trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Chủ động đổi mới phương thức tuyên truyền
Tỉnh Lai Châu có hơn 265 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), địa bàn rộng, chia cắt mạnh bởi địa hình núi cao, giao thông nhiều nơi còn khó khăn.
Trên tuyến biên giới, đời sống người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, còn hạn chế về điều kiện tiếp cận thông tin chính thống. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng không chỉ là quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ mà còn phải làm tốt công tác dân vận, tuyên truyền pháp luật, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.
Trước yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời đại số, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đã triển khai mô hình “Thư viện pháp luật số” tại các đồn, trạm biên phòng. Thay vì chỉ tổ chức các buổi tuyên truyền tập trung như trước đây, cán bộ, chiến sĩ chủ động số hóa tài liệu, xây dựng kho dữ liệu pháp luật trực tuyến, tích hợp mã QR để người dân có thể dễ dàng truy cập bằng điện thoại thông minh.
Mô hình được thiết kế đơn giản, dễ tiếp cận. Tại trụ sở đồn biên phòng, nhà văn hóa bản, trụ sở UBND xã hoặc các điểm sinh hoạt cộng đồng, lực lượng chức năng đặt bảng thông tin kèm mã QR. Người dân chỉ cần sử dụng điện thoại quét mã là có thể truy cập vào “Thư viện pháp luật số”, tìm hiểu các nội dung liên quan đến Luật Biên giới quốc gia, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, các quy định về phòng, chống mua bán người, xuất nhập cảnh, quản lý cư trú, phòng chống ma túy…
Người dân chỉ cần sử dụng điện thoại quét mã là có thể truy cập vào “Thư viện pháp luật số”.
Điểm nổi bật của “Thư viện pháp luật số” là nội dung được lựa chọn sát với thực tiễn đời sống vùng biên. Các tài liệu không chỉ là văn bản pháp luật khô khan mà được biên soạn lại dưới dạng hỏi – đáp, infographic, video ngắn, tình huống minh họa cụ thể, giúp người dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải cho biết: “Trước đây, mỗi đợt tuyên truyền phải chuẩn bị tài liệu in ấn, tập hợp bà con tại nhà văn hóa bản. Tuy nhiên, do đặc thù lao động sản xuất, không phải lúc nào người dân cũng tham gia đông đủ. Nay, với mô hình thư viện số, bà con có thể tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi, chủ động tìm hiểu những vấn đề mình quan tâm”.
Tại nhiều xã biên giới như Pa Ủ, Pa Vệ Sủ, Ka Lăng hay Hua Bum, người dân đã quen với việc sử dụng điện thoại thông minh để xem tin tức, kết nối mạng xã hội. Nắm bắt xu hướng đó, lực lượng biên phòng tận dụng chính nền tảng công nghệ để “cắm chốt” thông tin pháp luật trong không gian mạng, giúp định hướng dư luận, phòng ngừa các luận điệu xuyên tạc, sai trái.
Không ít trường hợp người dân đã chủ động liên hệ với đồn biên phòng để được tư vấn sau khi đọc tài liệu trên thư viện số. Có người tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn, khai sinh; có hộ gia đình hỏi về quy định xuất nhập cảnh, qua lại biên giới; thanh niên quan tâm đến nghĩa vụ quân sự, tuyển sinh vào các trường quân đội… Những phản hồi tích cực đó cho thấy mô hình đã thực sự phát huy hiệu quả.
Góp phần xây dựng thế trận lòng dân
Trong công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, “lòng dân” luôn được xác định là yếu tố then chốt. Khi người dân hiểu biết pháp luật, nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình, họ sẽ trở thành “cột mốc sống”, cùng lực lượng chức năng giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Sau thời gian triển khai, mô hình “Thư viện pháp luật số” đã được nhân rộng tại nhiều đồn biên phòng trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Thông qua “Thư viện pháp luật số”, nhận thức pháp luật của người dân vùng biên từng bước được nâng lên. Tình trạng vi phạm quy chế biên giới, xuất nhập cảnh trái phép, tiếp tay cho buôn lậu, vận chuyển hàng cấm… có xu hướng giảm. Người dân tích cực tham gia tố giác tội phạm, cung cấp thông tin cho lực lượng chức năng, phối hợp tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới.
Đặc biệt, trong bối cảnh các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để tung tin giả, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, việc chủ động cung cấp nguồn thông tin chính thống, kịp thời qua thư viện số càng có ý nghĩa quan trọng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ biên phòng không chỉ là người lính nơi tuyến đầu mà còn là “chiến sĩ truyền thông”, kiên trì đấu tranh phản bác thông tin sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Sau thời gian triển khai, mô hình “Thư viện pháp luật số” đã được nhân rộng tại nhiều đồn biên phòng trên địa bàn tỉnh. Các đơn vị chủ động cập nhật nội dung mới, bổ sung chuyên mục phù hợp với từng thời điểm, như tuyên truyền về phòng, chống dịch bệnh, phòng cháy chữa cháy rừng, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường…
Bên cạnh đó, lực lượng biên phòng phối hợp với chính quyền địa phương, đoàn thể tổ chức các buổi hướng dẫn người dân sử dụng mã QR, truy cập thư viện số. Với những bản vùng sâu chưa có sóng internet ổn định, cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ tải trước nội dung về máy, chiếu lại trong các buổi sinh hoạt cộng đồng. Việc số hóa tài liệu giúp tiết kiệm chi phí in ấn, dễ dàng cập nhật, chỉnh sửa khi có văn bản mới. Quan trọng hơn, nó tạo thói quen tiếp cận thông tin chính thống trên môi trường số cho người dân vùng cao, một bước đi phù hợp với xu thế chuyển đổi số quốc gia.
Giữa đại ngàn Tây Bắc, ánh sáng của tri thức pháp luật đang được thắp lên từ những chiếc điện thoại thông minh, từ sự tận tâm của người lính biên phòng. Sự lan tỏa của “Thư viện pháp luật số” chính là minh chứng sinh động cho tinh thần đổi mới, sáng tạo vì nhân dân phục vụ, góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh nơi phên giậu Tổ quốc, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.